Danh sách sở, ban, ngành
Menu chính

Báo cáo 6 tháng đầu năm 2008

Thứ Sáu, 07/04/2008 - 07:09

 BÁO CÁO

KẾT QUẢ CÔNG TÁC Y TẾ 6 THÁNG ĐẦU NĂM

PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ 6 THÁNG CUỐI NĂM 2008

 

PHẦN I -  KẾT QUẢ CÔNG TÁC Y TẾ 6 THÁNG ĐẦU NĂM

Trong 6 tháng đầu năm 2008 ngành y tế đã triển khai thực hiện có hiệu quả kế hoạch năm 2008, đáp ứng tốt công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân.

I. CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU HÀNH

1. Công tác chỉ đạo:

Ngay từ đầu năm toàn ngành y tế đã tập trung tổng kết công tác năm 2007 và triển khai kế hoạch năm 2008. Hầu hết các đơn vị hoàn thành hoạt động này ngay trong tháng 1. Công tác tổng kết và triển khai kế hoạch đã tập trung vào vấn đề trọng tâm, những vấn đề tồn tại nhằm nâng cao hiệu quả công tác. Việc triển khai công tác năm 2008 tiếp tục thay đổi theo hướng tiếp tục giao quyền chủ động nhiều hơn cho các đơn vị và lĩnh vực chuyên môn.

Trong 6 tháng đã củng cố tổ chức bộ máy của các đơn vị nhằm tăng cường và nâng cao chất lượng công tác quản lý điều hành. Bổ nhiệm lãnh đạo các phòng thuộc Sở, các đơn vị trực thuộc. Đã tổ chức thực hiện Nghị định 13/2008/NĐ-CP và Nghị định 14/2008/NĐ-CP về việc tổ chức hệ thống các đơn vị trong ngành. Xây dựng dự thảo qui định nhiệm vụ, quyền hạn cơ cấu tổ chức bộ máy của Sở Y tế; dự thảo hướng dẫn UBND cấp huyện qui định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức bộ máy của Phòng Y tế. Đã hoàn thành tiếp nhận bộ phận Dân số - KHH gia đình về Sở Y tế và ra quyết định thành lập và phân bổ biên chế cho Chi cục Dân số - Kế hoạch hoá gia đình và 11 Trung tâm dân số kế hoạch hoá gia đình huyện thành phố. Đã triển khai thực hiện Nghị định 132/2007/NĐ-CP về tinh giản biên chế trên cơ sở sắp xếp, kiện toàn, bố trí lại lao động trong các đơn vị.

Sở Y tế cũng đã thường xuyên tiến hành chỉ đạo, kiểm tra giám sát, đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị tuyến huyện và tuyến tỉnh. Nhìn chung, tình hình thực hiện công tác y tế tiếp tục có tiến bộ. Công tác quản lý và công tác thực hiện quy chế chuyên môn đã đi vào nề nếp. Một số đơn vị đã duy trì tốt công tác kiểm tra, giám sát đơn vị và tuyến dưới.

2. Thực hiện Chuẩn quốc gia về y tế xã:

Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành, do vậy ngay từ đầu năm ngành đã tập trung tổ chức thực hiện Chuẩn quốc gia về y tế xã(CQGYTX) theo hướng bền vững. Trong 6 tháng đầu năm Sở đã tổ chức giám sát được tình hình thực hiện CQGYTX tại 5 huyện.

 Tuy nhiên chất lượng giám sát của tuyến huyện đối với tuyến xã chưa cao. Tổ chức giám sát còn mang nặng tính kiểm tra, chưa thực hiện tốt việc thảo luận, hướng dẫn để tìm biện pháp giải quyết cụ thể. Còn một số nội dung hướng dẫn không chính xác và không thống nhất giữa các thành viên của đội giám sát. Nguyên nhân chủ yếu do chưa thực hiện đúng quy trình giám sát. Phần lớn các đội giám sát không họp và lựa chọn vấn đề ưu tiên để giám sát, do vậy giám sát không có trọng tâm. Kết thúc giám sát, hầu hết các đội giám sát của huyện không họp đội giám sát để rút kinh nghiệm và thống nhất về các nội dung hướng dẫn cho tuyến xã. Vì vậy kết quả giám sát phần nào bị hạn chế và chưa tạo điều kiện để tuyến xã nâng cao chất lượng công tác y tế sau giám sát.

Đối với các tuyến xã, qua các năm thực hiện Chuẩn đến nay Đảng uỷ, HĐND, UBND các xã và thị trấn đã quan tâm chỉ đạo thực hiện CQGYTX. Tuy nhiên còn có một số trạm y tế chưa phát huy vai trò tham mưu cho cấp uỷ đảng, chính quyền. Hệ thống sổ sách ghi chép và các báo cáo còn nhiều thiếu sót, chưa theo đúng quy định nên việc kiểm tra đánh giá hoạt động chuyên môn không được chính xác. Chất lượng hoạt động chuyên môn đã có nhiều chuyển biến tích cực. Bên cạnh đó còn có một số tồn tại, đặc biệt là công tác dược; phần lớn các xã chưa có đủ thuốc thiết yếu theo qui định, việc ghi chép sổ sách không đúng quy định, chủ yếu thiếu sổ xuất nhập thuốc. Nguyên nhân chính do cán bộ giám sát dược không đủ năng lực, không tổ chức giám sát thường xuyên, do vậy không biết cách hướng dẫn đầy đủ và chi tiết thực hiện chuẩn này.

 

II. CÔNG TÁC DỰ PHÒNG

 

Trong 6 tháng đầu năm không có dịch lớn xảy ra. Công tác giám sát dịch bệnh tiếp tục được chú trọng, duy trì thực hiện định kỳ hàng tuần, đặc biệt là trong thời gian xuất hiện các ổ dịch trong nước đã thực hiện chế độ báo cáo hàng ngày và báo dịch khẩn cấp về tình hình các bệnh dịch nguy hiểm. Đồng thời Ngành đã tiến hành củng cố, kiện toàn mạng lưới phòng dịch, nhân lực, thiết bị và vật tư chuyên môn, rà soát và tăng cường các biện pháp phòng bệnh, sẵn sàng ứng phó tình huống xảy ra các dịch bệnh nguy hiểm. Tình hình các bệnh truyền nhiễm trong 6 tháng đầu năm 2008 trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định và giảm so với 6 tháng 2007 và không có tử vong do bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Số mắc sởi là 02 (năm 2007 là 47 ca); không có trường hợp nào mắc viêm màng não mô cầu (cùng kỳ năm 2007 có 09 ca); số tr­ường hợp mắc cúm là 13.378 ca tương đương cùng kỳ năm 2007. Lấy mẫu bệnh phẩm với tổng số 243 mẫu trong đó số mẫu có KQXN 175, đ­ược chẩn đoán xác định 175 mẫu dư­ơng tính với cúm týp A/H1, A/H3, A/H5 và 01 mẫu d­ương tính với cúm týp B (dự án giám sát cúm tại Bệnh viện huyện Cao Lộc);

A. Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS

1.     Công tác tiêm chủng mở rộng:

          Công tác TCMR đ­­ược triển khai 11/11 huyện, thành phố với tổng số trẻ dưới 1 tuổi đ­­ược tiêm đủ 7 loại vacxin là 4.167/11.800 đạt 35%; số phụ nữ có thai tiêm đủ AT2+ là 3.715/11.800 đạt 31% (số liệu 5 tháng năm 2008), ước số liệu 6 tháng tương đương so với cùng kỳ năm 2007.

          Công tác tập huấn chuyên môn kỹ thuật cho cán bộ y tế tuyến tr­ước được triển khai trong 6 tháng đầu năm 2008 đ­ược 04 lớp với tổng số là 150 học viên, đối tượng là cán bộ y tế huyện, xã, y tế thôn bản.

2.     Công tác phòng chống sốt rét

Công tác giám sát, phòng chống dịch được duy trì, không có tử vong do sốt rét. Số mắc sốt rét giảm 2,2% so với cùng kỳ năm 2007. Số lam máu xét nghiệm tìm ký sinh trùng sốt rét được 49,3% kế hoạch năm, tuy nhiên đã pháp hiện 17 lam có  ký sinh trùng sốt rét, tăng 233% so với cùng kỳ năm 2007. Phần lớn các trường hợp này đều là sốt rét ngoại lai, tập trung chủ yếu ở Tràng Định (6 trường hợp) và Lộc Bình (7 trường hợp), tất cả các trường hợp này đều đã được điều trị tích cực không để lây lan ra cộng đồng. Đã tiến hành phun tẩm hoá chất cho 10 huyện, tổng số dân được bảo vệ đạt 97% kế hoạch, trong đó phun tồn lưu đạt 8,2% kế hoạch; tẩm  màn đạt 96,6% kế hoạch. Trong quá trình thực hiện đều có cán bộ của Trung tâm y tế huyện, tỉnh giám sát nên cơ bản đạt yêu cầu của chuyên môn kỹ thuật và đúng tiến độ.

3.     Công tác phòng chống Lao:

          Công tác phòng chống lao tiếp tục được duy trì và củng cố. Kết quả điều trị khỏi đạt 85% số bệnh nhân đăng ký điều trị, đạt mục tiêu quy định của chương trình. Qua kiểm tra giám sát cho thấy các đơn vị đã triển khai thực hiện kế hoạch tương đương với cùng kỳ năm 2007. Tuy nhiên do cán bộ tuyến huyện thường kiêm nhiệm nhiều chương trình hoặc thay đổi cán bộ nên chưa thực hiện đúng các quy định của chương trình trong việc kiểm tra, giám sát và báo cáo hoạt động của chương trình. Một số xã chưa thực hiện đúng các quy định về việc lấy đờm làm xét nghiệm trong quá trình điều trị. Việc gửi giới thiệu và gửi người nghi lao đi khám chưa được quan tâm do vậy không phản ánh đúng tỷ lệ mắc lao trong cộng đồng. Số người nghi lao trong 6 tháng là 1.239, số phát hiện lao mới 173, trong đó AFB(+) là 111.

4.     Công tác chăm sóc sức khoẻ tâm thần cộng đồng:

          Chương trình chăm sóc sức khoẻ tâm thần tiếp tục được triển khai thêm 12/25 xã mới và tiếp tục duy trì hoạt động tại 126 xã đã triển khai. Nhìn chung các chỉ tiêu chuyên môn đề đạt mục tiêu của dự án, các hoạt động của dự án đã được lồng ghép chung vào các hoạt động của trạm y tế xã. Mạng lưới hoạt động đã dần đi vào nền nếp, tuy nhiên do thiếu cán bộ chuyên khoa từ tỉnh đến huyện nên công tác thăm khám và quản lý điều trị bệnh nhân tại cơ sở còn gặp khó khăn, tất cả các bệnh nhân mới phát hiện đều phải chuyển lên phòng khám của Trung tâm PCBXH để khám và điều trị ban đầu. Công tác quản lý điều trị chưa được chặt chẽ, kết quả điều trị chưa cao, số bệnh nhân bỏ trị còn nhiều.

5.     Công tác phòng chống HIV/AIDS:

Hoạt động phòng chống HIV/AIDS được duy trì thường xuyên. Tiến hành giám sát các hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại các huyện và mở các lớp tập huấn kỹ năng truyền thông phòng chống HIV/AIDS, kỹ năng chăm sóc điều trị cho các cán bộ y tế. Số người nhiễm luỹ tích đến nay là 2.762 người, số tích luỹ do AIDS là 1.575 trường hợp , luỹ tích số trẻ dưới 15 tuổi là 54. Tổng số tử vong do AIDS và liên quan đến nay là 1.490. Hiện nay do chưa có tiêu chí xã phường trọng điểm nên việc phân bổ ngân sách giám sát trọng điểm còn gặp nhiều khó khăn.

6.     Công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản

Công tác chăm sóc sức khoẻ sức khoẻ sinh sản tiếp tục được duy trì và củng cố. Số ca đẻ do cán bộ y tế đỡ cao, chiếm 94,3% số ca đẻ chung, tương đương cùng kỳ năm 2007. Số trường hợp sinh tại cơ sở y tế công lập cao chiếm tỷ lệ 86,4% các trường hợp, cao hơn 4% so với cùng kỳ năm 2007 (82,5%). Số bà mẹ được chăm sóc tuần đầu sau đẻ chiếm tỷ lệ 58,1% các trường hợp, cao hơn 7% so với cùng kỳ năm 2007. Số các mẹ khám thai 3 lần và đúng 3 thai kỳ là chiếm tỷ lệ 69,2%, cao hơn 12% so với cùng kỳ năm 2007. Số xã thực hiện được dịch vụ kỹ thuật thường xuyên tại trạm đặt DCTC: 80,4%, hút thai:44,9%. Tuy nhiên công tác truyền thông giáo dục chăm sóc thai nghén chưa được chú trọng, tổ chức quản lý thai nghén không đầy đủ, cán bộ y tế còn ít thăm khám sản phụ sau đẻ tại nhà.

7.     Phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em

Công tác phòng chống suy dinh dưỡng tiếp tục được thực hiện. Cân và theo dõi biểu đồ tăng trưởng trẻ em dưới 2 tuổi hàng tháng vẫn được duy trì thường xuyên. Tuy nhiên hiện nay có một số xã nằm ngoài chương trình hỗ trợ kinh phí cân trẻ nên gặp khó khăn trong việc tổ chức cân trẻ. Đã tiến hành tổ chức truyền thông và hướng dẫn thực hành dinh dưỡng tại các xã cho bà mẹ có con dưới 5 tuổi và các đối tượng khác. Đồng thời đã tiến hành cấp phát các tài liệu tuyên truyền cho cơ sở để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác truyền thông, hướng dẫn phòng chống suy dinh dưỡng tại cộng đồng. Đã tổ chức và thực hiện tốt cho trẻ từ 6 đến 60 tháng tuổi uống Vitamin A đợt I vào ngày 1 và 2/6 cho 99,1% số trẻ trong độ tuổi.

B. Chương trình mục tiêu quốc gia Vệ sinh an toàn thực phẩm    

Công tác đảm bảo chất l­­ượng VSATTP trong những tháng đầu năm đạt được một số kết quả: Không xảy ra các vụ ngộ độc lớn, hàng loạt trong dịp tết Nguyên Đán và lễ hội đầu năm. Tuy nhiên đã xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm tại huyện Bình Gia với tổng số người mắc 16, không có tử vong. Nguyên nhân gây ngộ độc do vi sinh vật có trong kem.

Tổ chức tốt tháng hành động về chất l­ượng vệ sinh an toàn thực phẩm từ ngày 15/4 đến ngày 15/5/2008. Công tác kiểm tra giám sát, quản lý VSATTP đạt tiêu chuẩn đ­­ược 100% số cơ sở sản xuất thực phẩm; 72,2% cơ sở dịch vụ ăn uống; 71,9% số cơ sở kinh doanh thực phẩm. Trong quá trình kiểm tra đã phát hiện một số cơ sở không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm nguyên nhân do trình độ nhận thức của ng­ười chế biến và kinh doanh thực phẩm còn hạn chế, môi trường khu chế biến không đảm bảo, chưa học tập kiến thức về VSATTP. Xét nghiệm mẫu thực phẩm với tổng số là 260 mẫu, trong đó số mẫu đạt tiêu chuẩn vệ sinh về lý hóa là 100 mẫu; số mẫu đạt tiêu chuẩn vệ sinh về vi sinh là 103/160 (đạt 64,3%).   

          Công tác truyền thông về VSATTP đ­­ược thực hiện th­ường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng, cũng như­ trực tiếp tại các cơ sở chế biến thực phẩm trong dịp tết Nguyên Đán, dịp lễ hội đầu năm và tháng ATVSTP. Tập huấn kiến thức cho ng­­ười làm trực tiếp, chế biến thực phẩm và ng­ười quản lý các cơ sở được 84 buổi với số lượng tham gia 34.676 người.

C. Các công tác dự phòng khác

1.      Công tác kiểm dịch quốc tế

Đã đảm bảo giám sát dịch bệnh và phục vụ nhu cầu hành khách qua lại biên giới, lưu thông hàng hoá xuất nhập khẩu. Kiểm tra giám sát về vệ sinh môi trường đảm bảo tốt, không có dịch bệnh xảy ra tại khu vực cửa khẩu và vùng dân cư xung quanh. Trong 6 tháng đầu năm các chỉ tiêu đa số đạt và vượt so với cùng kỳ năm 2007, đã kiểm dịch y tế khách nhập cảnh đạt 61,,04% kế hoạch năm, tăng 27,9% so với cùng kỳ năm 2007; kiểm dịch ô tô và hàng hoá nhập cảnh đạt 63,3% kế hoạch, tăng 29,1% so với cùng kỳ năm 2007; thu lệ phí kiểm dịch được 2.008 triệu đồng tăng 12% so với cùng kỳ năm 2007.

2.     Truyền thông giáo dục sức khoẻ:

Công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ được tiến hành thường xuyên tập trung vào các nội dung phục vụ cho công tác chăm sóc sức khoẻ của nhân dân. Tiến hành xây dựng 13 chuyên mục “Sức khoẻ và đời sống” trên đài truyền hình Lạng Sơn, 24 chuyên mục trên báo Lạng Sơn phản ánh các hoạt động của ngành, phổ biến các kiến thức phòng và điều trị bệnh thông thường. Thực hiện xuất bản 2 bản tin y tế. Tổ chức 01 lớp tập huấn về kĩ năng viết tin bài cho 20 cộng tác viên.

3.     Phòng chống bướu cổ và rối loạn nội tiết:

Công tác kiểm tra, giám sát muối trên địa bàn toàn tỉnh vẫn được tiến hành thường xuyên bằng các kiểm nghiệm các mẫu muối nhập về kho của tỉnh. Số muối iốt nhập kho về tỉnh là 1.065 tấn, kiểm nghiệm chất l­ượng muối iốt bằng phương pháp định l­ượng đ­ược 464 mẫu và phương pháp định tính đ­ược  464 mẫu, kết quả 100% mẫu đạt tiêu chuẩn phòng bệnh.

Duy trì tốt việc khám chữa bệnh tại Trung tâm y tế dự phòng và tại các đơn vị cơ sở. Số bệnh nhân đ­­ược khám và điều trị bệnh Basedow tại Trung tâm là 27 bệnh nhân (cùng kỳ năm 2007 là 09); số bệnh nhân được điều trị bệnh Bướu cổ đơn thuần là 64 bệnh nhân (cùng kỳ năm 2007 là 157); số bệnh nhân được khám bệnh Đái tháo đường là 06. Công tác tập huấn chuyên môn về điều trị bệnh Đái tháo đường cho cán bộ y tế cơ sở đ­ược 01 lớp với tổng số là 60 học viên. 

4.     Phòng chống sốt xuất huyết:

Công tác giám sát vẫn được duy trì tại tuyến tỉnh và 11 huyện, thành phố có xã điểm bằng hình thức trực tiếp, báo cáo tuần và báo cáo tháng. Trong quý không phát hiện ca bệnh sốt xuất huyết.

5.     Công tác phòng chống phong:

Những tiêu chuẩn cơ bản của kết quả loại trừ bệnh phong vẫn được duy trì. Trong 6 tháng đã triển khai khám điều tra và phúc tra về bệnh phong tại 8 xã cho 21.658 người, số mắc bệnh da là 1.320 người (chiếm tỷ lệ 6% tương đương với cùng kỳ năm 2007), không phát hiện trường hợp mắc phong mới, đạt 32% kế hoạch năm, cao gấp đôi so với cùng kỳ năm 2007. Qua giám sát tại một số huyện, xã không có bệnh nhân phong nhận thấy kiến thức chuyên môn cán bộ phụ trách chương trình còn yếu, chưa chủ động trong công việc triển khai thực hiện kế hoạch, đặc biệt là công tác khám điều tra theo phương thức cải tiến nên thường chưa đạt yêu cầu và chất lượng đề ra.

III. CÔNG TÁC KHÁM CHỮA BỆNH:

Trong quá trình thực hiện các bệnh viện đã có nhiều chuyển biến tích cực, tổ chức phân công chăm sóc người bệnh theo nhóm và chăm sóc toàn diện tại các phòng điểm, khoa điểm. Việc thực hiện quy chế chuyên môn bệnh viện như ghi chép hồ sơ, sổ sách tương đối đầy đủ, rõ ràng; đa số chỉ định thuốc phù hợp với chẩn đoán. Tổ chức hội chẩn và kiểm điểm tử vong nghiêm túc hơn và đúng quy trình. Một số đơn vị duy trì tốt công tác kiểm tra khoa - phòng và chế độ đi buồng bệnh. Đã tổ chức sinh hoạt người bệnh tại các khoa lâm sàng; sinh hoạt hội đồng người bệnh cấp bệnh viện đúng quy chế. Một số bệnh viện huyện đã nâng cao năng lực chuyên môn và đã thẩm định thực hiện kỹ thuật vượt tuyến cho 6 đơn vị.

 

Kết quả khám chữa bệnh trong 6 tháng đầu năm 2008 như sau

Đơn vị

Kết quả

So với Kế hoạch

Khám

Điều trị

Khám

Điều trị

Tuyến tỉnh

59.313

11.992

38,1%

51,9%

BV đa khoa

55.877

11.066

46,6%

53,1%

BV ĐD& PHCN

1.517

208

27,6%

29,9%

BV Lao

1.074

357

17,9%

97,8%

BV YHCT

845

361

3,5%

30,9%

Tuyến huyện

156.525

22.684

59,6%

45,6%

Hữu lũng

22.706

3.381

68,3%

53,6%

Chi Lăng

18.566

2.614

62,4%

46,3%

Bắc Sơn

18.688

2.902

62,8%

51,4%

Bình Gia

23.283

3.138

83,2%

59,1%

Văn Quan

16.582

1.758

72,9%

40,8%

Tràng Định

9.124

1.439

43,4%

36,1%

Văn Lãng

11.136

1.748

45,5%

37,6%

Đình Lập

5.267

1.068

30,1%

32,2%

Lộc Bình

13.364

2.527

50,9%

50,8%

Cao Lộc

10.641

2.068

38,0%

39,0%

Thành phố

7.168

41

409,6%

12,3%

Tuyến xã

310.701

61.912

41,6%

33,2%

Hữu lũng

43.461

16.378

37,9%

57,1%

Chi Lăng

36.358

848

45,9%

4,3%

Bắc Sơn

34.581

9.674

52,9%

59,2%

Bình Gia

32.001

910

59,3%

6,7%

Văn Quan

27.280

910

46,9%

6,3%

Tràng Định

33.388

4.842

53,3%

30,9%

Văn Lãng

23.707

5.685

47,3%

45,3%

Đình Lập

14.314

1.350

51,2%

19,3%

Lộc Bình

37.109

3.763

46,4%

18,8%

Cao Lộc

22.995

14.474

31,1%

78,4%

Thành phố

5.507

3.078

6,9%

15,3%

 

Kết quả khám bệnh của các đơn vị tuyến tỉnh tương đương so với cùng kỳ năm 2007, so với chỉ tiêu đạt thấp hơn so với kế hoạch, trong đó tuy nhiên Bệnh viện Y học cổ truyền kết quả khám chữa bệnh thấp nhất. Nguyên nhân do Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh vừa được tăng chỉ tiêu giường bệnh. Một phần do chất lượng chất lượng khám chữa bệnh không tiến bộ so với trước, trong khi đó  các bệnh viện, đặc biệt là các bệnh viện huyện mở rộng phạm vi hoạt động chuyên môn, thu hút bệnh nhân điều trị tại tuyến cơ sở. Bên cạnh đó còn có một số nguyên nhân khác như chưa tăng cường công tác khám điều trị ngoại viện, chưa đăng ký khám chữa bệnh ban đầu cho với bảo hiểm y tế…

Số khám bệnh của tuyến huyện tăng hơn 19%, số điều trị thấp hơn 16% so với cùng kỳ năm 2007, trong đó bệnh viện Đình Lập và Cao Lộc đạt kết quả thấp nhất.

Các trang thiết bị y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh đã từng bước được nâng cấp và hiện đại hoá góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị. Ngoài những trang thiết bị được cung cấp hoặc do đơn vị tự mua sắm, một số đơn vị đã thực hiện tích cực thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP, triển khai các mô hình liên doanh, liên kết đầu tư khai thác trang thiết bị và cơ sở vật chất; mở rộng thực hiện các dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu trong các bệnh viện. Bên cạnh đó còn một số đơn vị chưa quan tâm tới vấn đề vận hành, bảo dưỡng do vậy còn có trang thiết bị được cung cấp không đưa vào sử dụng hoặc khai thác ít có hiệu quả.IV. CÔNG TÁC KHÁC:

 

1.     Công tác quản lý, đảm bảo cung ứng thuốc vật tư sinh phẩm:

Công tác dược đảm bảo cung ứng đủ, kịp thời thuốc thiết yếu cho nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Trong 6 tháng đầu năm việc cung ứng thuốc của các cơ sở khám chữa bệnh công lập đều đã được thực hiện thông qua đấu thầu tập trung. Do vậy đã có sự thống nhất về chủng loại thuốc sử dụng tại các đơn vị và đặc biệt là có sự thống nhất về giá thuốc của tất cả các đơn vị y tế công lập trong toàn tỉnh. Đối với các đơn vị có nhu cầu sử dụng thuốc ngòai danh mục đấu thầu tập trung của Sở Y tế đã thực hiện tự tổ chức đấu thầu để đảm bảo cung ứng thuốc phục vụ cho công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Công tác kiểm tra, giám sát chất lượng thuốc đã được thường xuyên tiến hành. Trong các đợt kiểm tra không phát hiện các mẫu thuốc giả, không rõ nguồn gốc. Kiểm nghiệm được 347/650 mẫu thuốc đạt 53,8% so với kế hoạch, tương đương với cùng kỳ năm 2007. Trong quá trình kiểm nghiệm phát hiện tại Phòng khám đa khoa khu vực Văn Mịch - Bình Gia có thuốc hết hạn sử dụng.

2.     Hành nghề y dược tư nhân:

Tiếp tục tiếp nhận, tổ chức thẩm định và tổ chức xét duyệt cấp giấy phép hành nghề. Trong 6 tháng đầu năm đã tổ chức xét cấp 4 đợt, việc xét cấp giấy chứng nhận được thực hiện đúng quy định. Đã cấp 31 giấy chứng nhận hành nghề, 34 giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề.

Công tác thanh tra, kiểm tra hành nghề y dược tư nhân và thuốc cũng đã được quan tâm. Đã kiểm tra, thanh tra được 57 cơ sở, trong đó có 29 cơ sở vi phạm. Nguyên nhân do chưa thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý giá thuốc và HNYDTN. Nhìn chung các cơ sở HNYD đều thực hiện tốt các quy định của Nhà nước về HNYD, tuy nhiên vẫn còn một số cơ sở vi phạm nhỏ do các cơ sở chưa cập nhật các văn bản của nhà nước về HNYDTN được thường xuyên nên vẫn còn một số sai sót.

3.     Dân số KHHGĐ:

Sáu tháng đầu năm công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình ( DS - KHHGĐ) gặp rất nhiều khó khăn do việc tổ chức sắp xếp lại bộ máy, đến thời điểm hiện nay bộ máy tổ chức làm công tác  DS - KHHGĐ từ cơ sở đến tỉnh  vẫn chưa thật sự được kiện toàn, ổn định  ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch của 6 tháng đầu năm 2008. Đến ngày 15/6/2008 đã có 11/11 huyện, thành phố tổ chức triển khai chiến dịch "Tăng cường tuyên truyền vận động, lồng ghép dịch vụ CSSKSS/KHHGĐ" tới 132 xã/158 xã. Kết quả đã triệt sản cho 2 trường hợp, đặt dụng cụ tử cung: 3.130 trường hợp (63,23% kế hoạch chiến dịch); thuốc cấy tránh thai 27 trường hợp (54% KH); thuốc tiêm tránh thai: 180 trường hợp (120% KH) và khám phụ khoa cho 19.582 trường hợp (đạt 85,14% KH). So với cùng kỳ năm 2007 tổng số người áp dụng BPTT mới giảm 1.740 trường hợp ( bằng 9,9%) trong đó: Dụng cụ tử cung giảm 1.117 trường hợp, thuốc uống tránh thai giảm 380 trường hợp, thuốc cấy giảm 16 trường hợp, bao cao su 220 trường hợp, thuốc tiêm tránh thai giảm 14 trường hợp. Các chỉ tiêu đạt thấp so với cùng kỳ năm 2007 do ảnh hưởng trực tiếp của việc thay đổi bộ máy tổ chức ngành dân số từ tỉnh đến cơ sở. Bên cạnh đó kinh phí chương trình mục tiêu dân số cấp cho các huyện, thành phố còn chậm, một số huyện đến tháng 6/2008 vẫn chưa có kinh phí để chi trả chế độ cho cộng tác viên và cán bộ dân số xã.

4.     Giám định Y khoa:

Công tác giám định y khoa đã được thực hiện đúng các quy chế chuyên môn, một số chỉ tiêu khám tuyển dụng và khám sức khoẻ định kỳ của 6 tháng đầu năm giảm do các đơn vị chưa chủ động liên hệ với các đơn vị để tổ chức khám, tuy nhiên số này thực hiện khá tốt ở Trung tâm giám định y khoa. Đã tiến hành khám sức khoẻ tuyển dụng cho 3.970 giảm 17% so với cùng kỳ năm 2007;  giám định bệnh nghề nghiệp cho 08 người; khám nghỉ chế độ cho 94 người và khám sức khoẻ lái xe cho 3.522 người.

5.     Giám định Pháp Y:

          Trung tâm Pháp y đã tiến hành thực hiện theo chức năng và đã giám định được 160 vụ khám nghiệm tử thi, khám và cấp giấy chứng thương 158 vụ; giám định thương tật 121 vụ.

6.     Xây dựng cơ bản

Nhìn chung các công trình xây dựng cơ bản của ngành đang được tiến hành đúng theo kế hoạch đã định. Các dự án thuộc nguồn vốn đầu tư tập trung như dự án Trung tâm Kiểm nghiệm DP – MP, dự án xử lý nước thải bệnh viện đa khoa tỉnh đang trong phần hoàn thành chi tiết hồ sơ, dự kiến sẽ tổ chức đấu thầu vào tháng 7 và 8. Dự án TTPC Bệnh xã hội đã lập xong quyết toán những phần khối lượng đã thi công.

Nguồn vốn Hỗ trợ đầu tư y tế tỉnh, huyện tập trung cải tạo và nâng cấp các bệnh viện huyện Lộc Bình, Tràng Định, Hữu Lũng, Bắc Sơn, các dự án hiện đang thi công phần móng. Dự án phòng cháy chữa cháy ngoài nhà của Bệnh viện đa khoa tỉnh dự kiến khởi công trong tháng 8/2008. Thanh toán công nợ  của Nhà Bệnh nhân II của Bệnh viện Đa khoa tỉnh đang trong quá trình lập hồ sơ quyết toán.

Nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, Sở Y tế đã phân bổ cho các dự án bao gồm xây lắp và mua sắm trang thiết bị y tế, lập dự án đầu tư giai đoạn II cho các bệnh viện đã được phê duyệt đầu tư giai đoạn I, lập dự án đầu tư cho các bệnh viện chưa được đầu tư  giai đoạn I và một số PKĐKKV theo văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh.

Nguồn vốn thu từ Xổ số kiến thiết bố trí chuyển tiếp dự án Bệnh viện Điều Dưỡng và Phục hồi chức năng, hiện tại đang triển khai thi công các hạng mục Nhà Dinh dưỡng, Khối Khám - Hành chính, Khối Điều dưỡng.

IV. MỘT SỐ TỒN TẠI CHỦ YẾU

Qua thực hiện công tác 6 tháng đầu năm 2008 còn có một số tồn tại sau:

Công tác quản lý điều hành chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Việc cập nhật cơ chế, chủ trương, chính sách mới không kịp thời.Các phòng ban của một số đơn vị chưa làm tốt công tác tham mưu giúp việc cho lãnh đạo trong việc thực hiện tổ chức điều hành các hoạt động kiểm tra, giám sát.

Công tác thực hiện CQGYTX chưa thực sự đi nâng cao chất lượng hoạt động của trạm y tế xã. Cán bộ đội giám sát chưa chủ động trong công tác giám sát, vẫn mang tính hình thức, chưa tập trung vào công việc cụ thể với tình hình thực tế của từng trạm.

Việc thực hiện quy chế chuyên môn tại một số bệnh viện đặc biệt là quy chế hồ sơ bệnh án, chẩn đoán và điều trị chưa được thực hiện đúng quy trình kỹ thuật.

 Trong quá trình thực hiện các dự án xây dựng gặp một số khó khăn, đó là một số dự án phải thực hiện chi trả đền bù, giải phóng mặt bằng nên nhiều đã gây khó khăn và ảnh hưởng tới tiến độ của các dự án nói chung.Đặc biệt do sự biến động về giá vật tư trên thị trường quá lớn mà thông báo giá vật tư của Liên Sở Tài chính - xây dựng không cập nhật, thiếu thông tin, thông báo giá không phù hợp dẫn đến việc xác định tổng dự toán rất khó khăn, thiếu chính xác.

PHẦN II - PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ 6 THÁNG CUỐI NĂM 2008

           Tăng cường công tác chỉ đạo điều hành, tập trung mọi nguồn lực để hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch được giao.

Đẩy mạnh thực hiện Chuẩn quốc gia về y tế xã: Tăng cường sự chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền đối với việc tổ chức thực hiện CQGYTX. Kiện toàn các đội giám sát CQGYTX của huyện và thực hiện đúng quy trình giám sát. Các đơn vị y tế tuyến tỉnh thực hiện giám sát theo trọng tâm, trọng điểm và tổ chức hướng dẫn tại chỗ cho các đội giám sát tuyến huyện và các trạm y tế xã.

Giám sát chặt chẽ không để dịch nguy hiểm xảy ra; phát hiện sớm, xử lý kịp thời dịch bệnh. Đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực đảm bảo ứng phó dịch bệnh kịp thời. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm, quan tam tới thức ăn đường phố, đảm bảo thực hiện có kết quả chương trình mục tiêu bảo đảm VSATTP trên địa bàn tỉnh.

Đẩy mạnh hoạt động để thực hiện được các mục tiêu chỉ tiêu kế hoạch năm 2008.

Tập trung chỉ đạo tổ chức thực hiện quyết định 47-2008/QĐ-TTg ngày 02/4/2008 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt đề án đầu tư xây dựng, cải tạo và nâng cấp bệnh viện đa khoa huyện, khu vực từ nguồn vốn trái phiếu chính phủ.

Tiếp tục thực hiện và hoàn thiện bộ máy tổ chức của Sở Y tế, phòng y tế thuộc UBND tỉnh, huyện theo tinh thần thông tư 03/2008//TTLB-BYT-BNV của Liên bộ Bộ Y tế - Bộ Nội Vụ.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát: Các đơn vị tự kiểm tra đôn đốc việc xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện các nhiệm vụ, chỉ tiêu kế hoạch năm. tăng cường thực hiện các chương trình mụctiêu quốc gia, nhất là các chương trình thực hiện chỉ tiêu còn thấp.

Thực hiện tốt công tác kiểm tra, đôn đốc các đơn vị thi công đẩy nhanh tiến độ thực hiện, nâng cao chất lượng công trình, phát hiện và xử lý kịp thời những sai sót, giải quyết những vướng mắc phát sinh (thuộc thẩm quyền) nhằm hạn chế thất thoát, lãng phí, tăng hiệu quả đầu tư.

Tổ chức kiểm tra việc thực hiện các qui chế chuyên môn, qui trình kỹ thuật trong bệnh viện và các cơ sở khám chữa bệnh ngoài công lập. Rà sóat việc quản lý và sử dụng trang thiết bị.

 

 

 

Trong quá trình thực hiện CQGYTX cho thấy hiện nay cấp uỷ, chính quyền huyện và xã đều đã nhận thức khá đầy đủ về thực hiện CQGYTX, do vậy công tác chỉ đạo được triển khai tích cực ngay từ đầu năm. Tuy nhiên phần lớn các đội giám sát huyện chỉ tổ chức được 1 lần giám sát, còn lại thường giám sát riêng lẻ theo từng chương trình nên chưa đánh giá được tổng thể tiến độ thực hiện chuẩn của các xã. Công tác giám sát đã có một số thay đổi, phần lớn các cán bộ giám sát biết cách hướng dẫn tuyến xã thực hiện đúng các nội dung CQGYTX. Trong quá trình giám sát, cán bộ giám sát tuyến huyện tích cực giúp đỡ tuyến xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, đồng thời tiếp tục hoàn thiện kỹ năng giám sát của tuyến huyện.

Dự báo thời tiết
Lạng Sơn23
Hà nội 25
Đà Nẵng25
Hồ Chí Minh25

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ Y TẾ TỈNH LẠNG SƠN

Địa chỉ: Số 50 phố Đinh Tiên Hoàng, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn

Điện thoại: (025) 3.812.258; Fax: (025) 3.812.456 ; Email: congthongtindientu@langson.gov.vn