Thành viên mới
  • ubndvanlang
  • sotaichinhls
  • vilocvu
  • solaodong
  • thanhpho
Người dùng trực tuyến
Hiện đang có 0 users126 khách trực tuyến.
Đăng nhập

Điều kiện kinh tế - xã hội

Điều kiện kinh tế

Dân số, đặc điểm dân tộc và lao động

Văn Quan là huyện miền núi nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Lạng Sơn, thành phần dân tộc gồm: Tày, Nùng, Kinh, Hoa). Theo kết quả thống kê của Chi Cục Thống kê, dân số của huyện Văn Quan năm 2012 là 54.794 người, trong đó: nữ là 27.619 người (chiếm 50,4%), nam là 27.175 người; dân số thành thị 4.388 người (chiếm gần 8,0%), dân số nông thôn là 50.406 người. Mật độ dân số 99,6 người/km2. Năm 2012, Văn Quan có 12.785 hộ, trong đó nhân khẩu nông nghiệp có 49.498 người (chiếm 90,3%), còn lại là nhân khẩu phi nông nghiệp. Dân cư phân bố chủ yếu dọc các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, các trung tâm thị trấn, thị tứ, trung tâm xã, các điểm chợ...

Nguồn nhân lực của Văn Quan khá dồi dào. Năm 2012, tổng số lao động trong độ tuổi trong toàn huyện là 33.862 lao động, chiếm 61,7% tổng số nhân khẩu. Lao động có việc làm trên 30.000 người, trong đó có trên 85% số lao động hoạt động trong ngành nông nghiệp - lâm nghiệp.

Mạng lưới giao thông

Trong những năm qua, hệ thống giao thông trên địa bàn huyện đã được quan tâm đầu tư khá đồng bộ, qua các nguồn và hình thức đầu tư, hệ thống đường quốc lộ, tỉnh lộ, liên xã trên địa bàn được cải thiện đáng kể, số xã có đường giao thông đến trung tâm xã đi lại được 4 mùa là 18/24 xã, thị trấn. Chương trình bê tông hoá đường giao thông nông thôn, đường ngõ xóm được triển khai thuận lợi, với cơ chế nhà nước cấp xi măng, ống cống, nhân dân đóng góp vật liệu, ngày công đã thực hiện trên địa bàn nhiều xã. 

Tuyến Quốc lộ: Huyện Văn Quan có 2 quốc lộ chạy qua là Quốc lộ 1B và Quốc lộ 279. Tổng chiều dài quốc lộ đi qua địa bàn huyện là 50 km.

Tuyến Tỉnh lộ: Toàn huyện có 6 tuyến tỉnh lộ. Cụ thể như sau:

- Tuyến tỉnh lộ 240 (Ba Xã - Chợ Bãi) có chiều dài 9,6 km.

- Tuyến tỉnh lộ ĐT 240A (Bản Giềng - Đèo Cướm) có chiều dài 12 km.

- Tuyến tỉnh lộ 232 (Na Sầm - Vĩnh Lại ) có chiều dài 29 km, trong đó phần đi qua địa bàn huyện dài 18 km.

- Tuyến tỉnh lộ ĐT 239 (Pác Ve - Điềm He ) có chiều dài 23,4 km, trong đó phần đi qua địa bàn huyện dài 20 Km.

- Tuyến tỉnh lộ 235B (Khánh Khê- Bản Loỏng) có chiều dài 15 km, trong đó phần đi qua địa bàn huyện dài 11,5 Km.

- Đường Tu Đồn - Hoà Bình - Bình La - Gia Miễn. Điểm đầu tại km30+500 QL 1B, điểm cuối giáp với xã Bình La, chiều dài 12km. Đoạn Tu Đồn - Hoà Bình dài 5,3km.

Tuyến Huyện lộ và đường nội thị: Tại huyện Văn Quan có 8 tuyến đường huyện, gồm:

- Đường Bản Làn - Tràng Các có chiều dài tuyến là 16 km.

- Đường Việt Yên - Phú Mỹ co chiều dài tuyến 3,0 km.

- Tuyến đường Điềm He - Song Giang có chiều dài tuyến 5,0 km.

- Tuyến đường Thị Trấn - Pác Kéo có chiều dài tuyến 10 km.

- Đường Vĩnh Lại - Pác Kéo có chiều dài tuyến 8,0 km.

- Đường Nà Thang - Pá Hà có chiều dài tuyến 12 km.

- Đường Tân Đoàn - Tràng Sơn có chiều dài tuyến 8 km.

- Đường Tri Lễ- Hữu Lễ có chiều dài tuyến là 6,0 km.

Mạng lưới giao thông hiện có cơ bản đáp ứng được điều kiện đi lại của nhân dân trên địa bàn, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế- xã hội của huyện. Tuy nhiên, vẫn còn một số tuyến đường đã xuống cấp, đi lại khó khăn, nhất là các tuyến đường vào các thôn, bản trong các xã. Do vậy, trong thời gian tới cần được quan tâm đầu tư, nâng cấp và mở rộng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

Hệ thống thuỷ lợi và cấp, thoát nước

- Hệ thống thủy lợi:

Đến nay, toàn huyện có 540 công trình thủy lợi lớn nhỏ, trong đó có: 16 ao hồ, 279 đập dâng, 210 mương tự chảy, 35 trạm bơm. Tổng diện tích tưới theo thiết kế của các công trình thuỷ lợi là 2.320 ha, diện tích tưới thực tế đạt 1.531,5 ha (đạt 66,01% thiết kê). Tổng chiều dài tuyến mương là 160.616 m, trong đó: Mương đất chưa được kiên cố 97.507 m, mương đã được kiên cố hoá 63.110 m (2010).

Phần đa các công trình đập đầu mối được đầu tư khá kiên cố, góp phần thuận lợi cho việc tưới tiêu. Bên cạnh đó, hệ thống kênh mương nội đồng đã dần được kiên cố hóa qua phong trào “Ra quân đầu xuân làm thủy lợi”, với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm. Tuy nhiên, đến nay hệ thống công trình thủy lợi hiện có chỉ đáp ứng tưới ổn định cho khoảng 40% diện tích đất sản xuất nông nghiệp.

- Hệ thống cấp nước

Trên địa bàn huyện có tổng số 200 công trình cấp nước tập trung và 1.376 công trình ống dẫn nước do dân tự làm. Có 61,63% số hộ được dùng nước hợp vệ sinh. Tuy nhiên, hiện nay còn có nhiều xã chưa được đầu tư xây dựng công trình nước sạch, còn bộ phận dân cư sử dụng nguồn nước mặt cho sinh hoạt, chất lượng nước không hợp vệ sinh. Có 35 thôn đặc biệt khó khăn về nguồn nước, tập trung ở các xã Vân Mộng, Trấn Ninh, Tân Đoàn, Lương Năng, Hữu Lễ...

- Hệ thống thoát nước

Về nước thải sinh hoạt: Hiện chưa có trạm xử lý nước thải, mạng lưới thoát nước tại thị trấn huyện sử dụng hệ thống thoát nước chung của tuyến đường và thoát tự nhiên, nên các loại nước thải hầu như chưa được xử lý đến giới hạn cho phép và thường được xả trực tiếp ra sông, suối. Do vậy, các chỉ tiêu phân tích chất lượng nước thải khu dân cư tại thị trấn đều vượt giới hạn cho phép theo quy định đối với nước thải đô thị.

Về nước thải công nghiệp: Văn Quan là một huyện có sản xuất công nghiệp chưa phát triển, chủ yếu là chế biến nông lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng và khai khoáng, các cơ sở sản xuất này đều không có hệ thống xử lý nước thải.

Nước thải bệnh viện: Tại bệnh viện huyện khi đầu tư xây dựng đều có hệ thống xử lý nước thải được xử lý đơn giản bằng bể lắng trước khi xả vào hệ thống thoát nước chung của thị trấn. 

Hệ thống điện

Mạng lưới điện phục vụ cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân được quan tâm đầu tư. Đến nay có 100% số xã, thị trấn trên địa bàn huyện có điện lưới quốc gia. Tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng điện đạt trên 90%. Tổng sản lượng điện tiêu thụ bình quân hàng năm 4,2 - 4,8 triệu Kwh/năm chủ yếu phục vụ cho sinh hoạt, điện phục vụ sản xuất kinh doanh công nghiệp TTCN chỉ chiếm 3,8 - 4,5%/năm.

Nhìn chung, điện lưới quốc gia mới chỉ tới được các thôn, bản gần đường giao thông và trung tâm các xã, còn những thôn, bản vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì điện lưới vẫn chưa tới được với người dân.

Mạng lưới Bưu chính, viễn thông

Mạng lưới bưu chính của huyện gồm có 01 bưu cục cấp 2; 02 bưu cục cấp 3 và có 19 điểm bưu điện văn hóa xã, bán kính phục vụ bình quân 2,98 km (chỉ tiêu chung của cả nước là 2,37 km). Số dân phục vụ bình quân là 2.498 người/1 điểm phục vụ (mức bình quân chung của cả nước 4.332 người/1 điểm phục vụ). Có 24/24 xã, thị trấn có báo đến trong ngày. Mạng Bưu chính viễn thông rộng khắp, hiện tại các dịch vụ Bưu chính phổ cập đã được phục vụ đến tất cả các xã.

Dịch vụ điện thoại cố định: Từ năm 2005 100% số xã có điện thoại; mạng điện thoại di động đã phủ sóng di động tới 24/24 xã, thị trấn trong huyện. Năm 2012, tổng số thuê bao cố định trên toàn huyện là trên 4.192 máy.

Mạng Internet tại huyện Văn Quan chủ yếu là do bưu điện tỉnh cung cấp, ngoài ra còn có sự tham gia của các doanh nghiệp khác như Viettel, EVN. Tính đến nay, tổng số thuê bao Internet trên địa bàn huyện là trên 300 thuê bao, đạt mật độ 0,55 thuê bao/100 dân.

Hệ thống chợ

Trên địa bàn huyện hiện có 8 điểm chợ chính gồm: Chợ trung tâm thị trấn, chợ Ba Xã, chợ Bãi, chợ Tri Lễ, chợ Điềm He, chợ Lương Năng, chợ Khánh Khê, chợ Vân Mộng. Nhìn chung, mạng lưới chợ cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu mua bán và trao đổi hàng hoá của người dân trên địa bàn. Tuy nhiên diện tích xây dựng giữa các chợ không đồng đều, một số chợ có diện tích còn nhỏ hẹp, chưa đáp ứng được nhu cầu mua – bán của người dân; cơ sở hạ tầng của các chợ chưa được đầu tư, chủ yếu chợ họp tạm ngoài trời.

Điều kiện văn hóa - xã hội

Cơ sở hạ tầng ngành giáo dục

Sự nghiệp giáo dục tiếp tục được phát triển cả về quy mô và chất lượng. Mạng lưới trường học được phát triển rộng khắp trên địa bàn huyện. Năm học 2013-2014: có 69 trường, 649 lớp với 12.243 học sinh. Cơ sở vật chất cho dạy và học được tăng cường đầu tư, đến năm 2013 tỷ lệ phòng học được xây dựng kiên cố chiếm trên 80%,  không còn phòng học 3 ca. Thiết bị dạy học được trang bị mỗi khối lớp 01 bộ, sử dụng có hiệu quả đáp ứng cho việc dạy và học. Nhà ở giáo viên được tăng cường xây dựng, cơ bản đáp ứng nhu cầu về chỗ ở cho giáo viên..

Cơ sở hạ tầng ngành y tế

Mạng lưới y tế ngày càng được củng cố và tăng cường cả về trang thiết bị và đội ngũ cán bộ y tế. Cả huyện có 28 cơ sở y tế: Bệnh viên đa khoa huyện đã được đầu tư xây dựng với quy mô trên 100 giường bệnh và đưa vào sử dụng có hiệu quả các trang thiết bị như: máy chụp X quang, máy siêu âm, gây mê... Ngoài ra còn có 3 phòng khám đa khoa ở khu vực (Điềm He, Tân Đoàn, Yên Phúc). Trạm Y tế các xã, thị trấn cũng được đầu tư từ nguồn vốn Chính phủ, đến năm 2003 tất cả 24/24 xã, thị trấn đều có trạm và bố trí đủ các phòng chức năng theo phân tuyến và hoạt động có hiệu quả, trang thiết bị được cung cấp khá đầy đủ.

 Cơ sở hạ tầng ngành văn hóa

Công tác xây dựng các thiết chế văn hoá, thông tin, thể thao từ huyện đến cơ sở đã được quan tâm đầu tư xây dựng và phát triển. Thực hiện phương châm xã hội hoá với sự hỗ trợ đầu tư của Nhà nước, sự đóng góp của nhân dân và kêu gọi đầu tư từ các cá nhân, tổ chức đã góp phần mang lại những kết quả nhất định. Cụ thể

Thiết chế ở cấp huyện gồm: Trung tâm Văn hoá- Thể thao huyện; Thư viện huyện; sân vận động trung tâm huyện; Đài TT- TH huyện, 06 trạm phát lại truyền hình và 10 trạm truyền thanh xã.

Thiết chế ở cơ sở gồm: Hiện nay, toàn huyện có 04 nhà văn hóa xã, 178 nhà văn hóa thôn, phố; 02 thư viện xã; 17 sân, nhà tập thể thao do cấp xã quản lý.

Hệ thống các di tích và danh lam thắng cảnh

Di sản do thiên nhiên và lịch sử Văn Quan để lại đó là hệ thống các di tích  và danh lam thắng cảnh có giá trị về lịch sử và văn hoá. Hiện nay, toàn huyện có 12 di tích đã được các cấp có thẩm quyền xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa bao gồm:

+ Di tích Nhà lưu niệm đồng chí Lương Văn Tri (thôn Bản Hẻo, xã Trấn Ninh) là di tích lịch sử cấp Quốc gia (Theo Quyết định số 2233/1995/ QĐ- BVH-TT ngày 6 tháng 6 năm 1995 của bộ Văn Hóa -Thông tin về việc xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia).

+ 11 di tích lịch sử- văn hóa (Theo Quyết định số 41/2002/QĐ-UB ngày 02 tháng 10 năm 2002 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn về việc xếp hạng di tích cấp tỉnh đợt I năm 2002), gồm các di tích sau :

1. Cầu đá- Bia đá, xã Xuân Mai ( Di tích lịch sử)

2. Hang Rộc Mạ, xã Xuân Mai ( Di tích lịch sử khảo cổ)

3. Hang Quốc Phòng, xã Vĩnh Lại ( Di tích lịch sử)

4. Hang Pác Ả- Kéo vãng, xã Vĩnh Lại ( Di tích khảo cổ)

5. Bãi đất Khun Nặm, xã Bình Phúc ( Di tích lịch sử)

6. Đồi Pò Gianh, xã Tân Đoàn (Di tích lịch sử)

7. Hang Bà Đầm, Ba Xã, xã tân Đoàn ( Di tích khảo cổ )

8. Lũng Yêm, xã Tân Đoàn ( Di tích khảo cổ)

9. Hang Fhia Thình, xã Tân Đoàn ( Di tích khảo cổ)

10. Hang Bản Háu, xã Tràng Phái ( Di tích lịch sử )

11. Hang Ngườm Thắm, xã Tràng Phái ( Di tích khảo cổ).

ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN QUAN

Địa chỉ : Phố Đức Tâm I, Thị trấn Văn Quan, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn

Điện thoại: (025) 3830.018; Fax (025) 383.0163

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HUYỆN VĂN QUAN

www.langson.gov.vn/vanquan

EMAIL : trangttdtvanquan@gmail.com