Sở Ban ngành, Huyện thị
Liên kết Websites
Thống kê truy cập



myspace tracker

Phát triển kinh tế tập thể tỉnh Lạng Sơn năm 2012.

UỶ BAN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN
 

 



Số: 66 /KH-UBND
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
 

 



Lạng Sơn, ngày 15 tháng 7 năm 2011

 
KẾ HOẠCH
Phát triển kinh tế tập thể tỉnh Lạng Sơn năm 2012.
 



Kính gửi: Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
 
Thực hiện Công văn số 3194/BKHĐT-HTX ngày 23/5/2011 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế tập thể năm 2012, UBND tỉnh Lạng Sơn xây dựng kế hoạch năm 2012 của tỉnh như sau:
I. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ NĂM 2011
1. Tình hình kinh tế tập thể 6 tháng đầu năm 2011
1.1. Đánh giá chung về kinh tế tập thể
a. Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu về phát triển kinh tế tập thể
Đến hết tháng 6 năm 2011, tỉnh Lạng Sơn có 265 hợp tác xã (HTX) đăng ký thành lập, trừ 154 HTX dịch vụ điện năng do đã ngừng hoạt động chưa thực hiện thủ tục giải thể; hiện nay trên địa bàn tỉnh thực chất còn có 111 HTX hoạt động ở các lĩnh vực ngành nghề nông, công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ, với 3.906 xã viên và 4.623 người lao động. Tổng vốn điều lệ đăng ký khoảng 45,4 tỷ đồng. Trong 6 tháng đầu năm phát triển thêm được 04 HTX với 46 xã viên; chưa có Liên hiệp hợp tác xã đăng ký thành lập.
Đối với tổ hợp tác (THT) có khoảng 6.580 THT với 75.120 thành viên; trong 6 tháng đầu năm phát triển thêm được 20 THT với 120 thành viên.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của các HTX, THT còn gặp nhiều khó khăn, hiệu quả thấp. Năm 2010 tổng doanh thu của các HTX, THT trên địa bàn tỉnh đạt khoảng 46,7 tỷ đồng. 
Số cán bộ quản lý hợp tác xã qua đào tạo chiếm tỷ lệ thấp; trình độ sơ cấp, trung cấp chiếm 13 %, cao đẳng, đại học, trên đại học chiếm 2,3 %.
Thu nhập bình quân năm của một lao động trong khu vực kinh tế tập thể (KTTT) đạt khoảng 9.800.000 đồng; trong đó của một xã viên HTX là 10.300.000 đồng, của một thành viên THT là 8.400.000 đồng.
b. Phân loại hợp tác xã theo lĩnh vực
Tổng số HTX trên địa bàn tỉnh: 111
Trong đó: - Lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản: 56 HTX                                           - Lĩnh vực công nghiệp:                         24 HTX
                 - Lĩnh vực xây dựng:                               5 HTX
                 - Lĩnh vực thương mại dịch vụ:               16 HTX
                 - Lĩnh vực giao thông vận tải:                10 HTX
c. Thành tựu, tồn tại, nguyên nhân:
Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp Ủy, chính quyền; sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các cơ quan quản lý nhà nước; cùng với sự cố gắng, nỗ lực của tập thể, xã viên, tổ viên HTX, THT, kinh tế tập thể ngày càng phát triển và hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có chuyển biến tích cực, tạo công ăn việc làm, thu nhập ổn định cho xã viên, tổ viên, có đóng góp cho ngân sách nhà nước; góp phần thúc đẩy nền kinh tế của tỉnh phát triển và xóa đói giảm nghèo, nhất là ở vùng nông thôn. Từng bước làm thay đổi nhận thức của hệ thống chính trị và các cơ quan quản lý nhà nước về vị trí, vai trò của kinh tế tập thể trong phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn tỉnh; nâng cao trình độ, năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành của HTX và THT.
Tuy nhiên, sự phát triển của kinh tế tập thể chưa ngang tầm; số lượng, quy mô, chất lượng, hiệu quả hoạt động còn nhiều hạn chế; phần lớn các HTX, THT có quy mô nhỏ bé, hoạt động sản xuất kinh doanh còn đơn điệu, chưa năng động, chậm đổi mới theo những diễn biến của thị trường; chưa chủ động xây dựng kế hoạch, phương hướng hoạt động sản xuất kinh doanh, mô hình kinh doanh manh mún, hiệu quả thấp, chưa chủ động mở rộng hình thức kinh doanh theo hướng đa ngành, nghề; chưa có các hình thức liên doanh liên kết với tổ chức, doanh nghiệp. Số HTX, THT làm ăn có hiệu quả chiếm tỷ lệ nhỏ, tốc độ tăng trưởng thấp, đóng góp không đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh. Dự ước đến hết năm 2011, về cơ bản sự phát triển HTX, THT chưa đạt được mục tiêu, kế hoạch đã đề ra. 
Trong năm 2010 và 6 tháng đầu năm 2011, do ảnh hưởng của những bất lợi về thời tiết hạn hán và rét đậm, rét hại kéo dài, dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm diễn biến bất thường; giá vật tư, nguyên liệu phục vụ sản xuất, giá hàng tiêu dùng,  lãi suất tiền vay ngân hàng tăng cao đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các HTX, THT trên địa bàn; làm chậm tiến độ sản suất, giảm năng suất, sản lượng của một số cây trồng, vật nuôi, thiệt hại do gia súc, gia cầm chết rét, dịch bệnh, tăng chi phí đầu, giảm tỷ suất lợi nhuận,… dẫn đến hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh kém; cùng với  quy mô nhỏ, hoạt động manh mún, trình độ, năng lực của cán bộ quản lý yếu kém, bất cập nên KTTT trên địa bàn tỉnh hầu như không phát triển được.
1.2 Kết quả thực hiện cơ chế, chính sách phát triển kinh tế tập thể
a. Tình hình triển khai Luật và các văn bản hướng dẫn
Các cấp Ủy, chính quyền đã quan tâm lãnh đạo chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể; coi phát triển kinh tế tập thể là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh. Chỉ đạo các cấp, các ngành làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền như: Tổ chức các hội nghị phổ biến, quán triệt, thông tin, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về nội dung cơ bản của Luật Hợp tác xã và các văn bản hướng dẫn của Trung ương; các cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển kinh tế tập thể của Nhà nước; đồng thời cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch, giải pháp tổ chức thực hiện của từng cấp, ngành; hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân thành lập HTX, THT và hoạt động sản xuất, kinh doanh…
Do làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến nên đã từng bước nâng cao nhận thức của các cấp Ủy, chính quyền và các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò của kinh tế tập thể, về HTX kiểu mới.
Tuy nhiên, hình thức tuyên truyền, phổ biến chưa phong phú, chưa thường xuyên và rộng khắp, chất lượng, hiệu quả còn hạn chế; nên nhận thức của một bộ phận cán bộ làm công tác quản lý Nhà nước còn hạn chế, tâm lý hoài nghi, mặc cảm đối với HTX; chưa thật sự tạo được lòng tin đối với nhân dân; các THT chưa thực sự chú trọng đến việc đăng ký với UBND xã theo quy định mà chủ yếu vẫn là hoạt động sản xuất kinh doanh tự phát… 
b. Bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế tập thể
Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về kinh tế tập thể còn thiếu về số lượng, trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng quản lý còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu; nhiều sở, ngành của tỉnh, UBND huyện, thành phố chưa bố trí được cán bộ chuyên trách quản lý về KTTT, chủ yếu là kiêm nhiệm nên việc nắm bắt các chủ trương, cơ chế, chính sách, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các HTX, THT còn hạn chế, không kịp thời; chậm tham mưu, đề xuất cho tỉnh về chủ trương, cơ chế, chính sách, giải pháp thúc đẩy phát triển KTTT cho phù hợp.  
Ở một số đơn vị, lãnh đạo chưa thực sự quan tâm đến thành phần KTTT, chưa chủ động xây dựng kế hoạch, phân công, đôn đốc cán bộ chủ động theo dõi, tổng hợp tình hình hoạt động của HTX, THT; chưa quan tâm tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ quản lý Nhà nước về HTX, THT nhằm nâng cao kiến thức quản lý và kỹ năng hướng dẫn, tư vấn cho HTX, THT trong quá trình hoạt động.
c. Tình hình triển khai thực hiện Nghị định số 88/2005/N Đ-CP ngày 11/7/2005 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển hợp tác xã
Triển khai thực hiện Nghị định số 88/2005/NĐ-CP quy định một số chính sách hỗ trợ khuyến khích, phát triển KTTT như: Đất đai, thuế, tín dụng, bồi dưỡng, đào tạo, ứng dụng đổi mới nâng cao trình độ công nghệ…UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành, hệ thống Ngân hàng thương mại trên địa bàn tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng và tổ chức thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển KTTT của Nhà nước. 
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện còn nhiều khó khăn, vướng mắc nên kết quả thực hiện còn hạn chế, nhất là chính sách hỗ trợ về đất đai, ứng dụng, đổi mới nâng cao trình độ công nghệ, khuyến công, khuyến nông, thành lập mới, xúc tiến thương mại; chủ yếu mới thực hiện được việc hỗ trợ  đào tạo, bồi dưỡng cán bộ HTX và giải quyết một phần vốn vay ưu đãi cho các HTX. Trong 6 tháng đầu năm 2011, tổ chức tập huấn được 3 lớp bồi dưỡng cho 110 người là cán bộ, xã viên và người lao động trong HTX (2 lớp Luật Bảo vệ môi trường, quy trình thu gom và xử lý rác thải, 1 lớp về tin học, công nghệ thông tin và mạng Internet); tổng kinh phí là 150 triệu đồng. Thực hiện tư vấn, hướng dẫn các HTX xây dựng được 4 dự án vay vốn quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm.
d. Thành tựu, tồn tại, nguyên nhân
- Thành tựu: Nhìn chung, 6 tháng đầu năm 2011 khu vực KTTT vẫn duy trì và ổn định hoạt động sản xuất, kinh doanh, khai thác có hiệu quả các nguồn lực sẵn có trên địa bàn về đất đai, nguyên liệu, vốn, lao động, đảm bảo việc làm và thu nhập cho các xã viên, tổ viên và người lao động; góp phần tích cực trong công tác xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, có đóng góp cho sự phát triển chung của nền kinh tế địa phương.
Trình độ, năng lực quản lý của lãnh đạo HTX đã từng bước được nâng lên; nhận thức đúng hơn về trách nhiệm và quyền lợi của HTX, tổ chức bộ máy gọn, hiệu quả hơn, phương án sản xuất kinh doanh từng bước được đổi mới, đa dạng, linh hoạt và có hiệu quả hơn; nhiều HTX đã chủ động nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, mở rộng ngành nghề kinh doanh đa dạng hơn.
Công tác hỗ trợ bồi dưỡng, đào tạo và khuyến khích thành lập HTX được quan tâm và thực hiện khá tốt, nhiều lãnh đạo và quản lý HTX đã quan tâm chú trọng đến việc bồi dưỡng và nâng cao năng lực, trình độ quản lý và tay nghề cho các xã viên.
- Tồn tại: Bên cạnh những kết quả đạt được trên, việc phát triển kinh tế tập thể trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế: Quy mô, chất lượng, hiệu quả hoạt động của kinh tế tập thể còn nhiều bất cập; năng lực sản xuất kinh doanh, quy mô nhỏ bé; thiết bị, công nghệ lạc hậu, thiếu vốn; chất lượng sản phẩm, dịch vụ hạn chế, thiếu sức cạnh trạnh trên thị trường; việc ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, đổi mới công nghệ, thiết bị chưa được các HTX quan tâm đúng mức; trình độ, năng lực quản lý, điều hành của cán bộ quản lý còn yếu, một bộ phận còn tư tưởng trông chờ vào sự trợ giúp của Nhà nước, thiếu năng động, sáng tạo, đổi mới theo cơ chế thị trường…
- Nguyên nhân: Năm 2011, nền kinh tế của tỉnh tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức; tình hình lạm phát, giá cả nguyên, nhiên vật liệu và hàng tiêu dùng tăng cao đã tác động mạnh đến sản xuất và đời sống; làm cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của khu vực KTTT gặp nhiều khó khăn; cùng với những yếu kém vốn có của KTTT chậm được khắc phục; việc thực hiện các chính sách ưu đãi, hỗ trợ HTX còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, nhất là các chế độ ưu đãi về tín dụng, đất đai, ứng dụng đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ, khuyến nông, khuyến ngư và khuyến công, hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống xã viên khó thực hiện. Tỉnh chưa thành lập được Quỹ hỗ trợ phát triển HTX.
 Tổ chức hoạt động mô hình HTX hiện nay còn phúc tạp, chưa khích lệ được đông đảo người dân tham gia. Vai trò của lãnh đao HTX thiếu tính chủ động, tự chịu trách nhiệm như các loại hình doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.
Nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi cho HTX ở các lĩnh vực, nhưng rất ít các HTX có thể tiếp cận được và được hưởng những chính sách ưu đãi đó do thủ tục, quy trình thực hiện còn khá phức tạp và chưa sát với tình hình của HTX. 
Công tác quan tâm chỉ đạo của cấp Ủy và chính quyền địa phương về KTTT ở nhiều nơi chưa đúng mức, bộ máy quản lý nhà nước về KTTT còn lúng túng hoặc buông lỏng trong tổ chức chỉ đạo.
2. Dự kiến khả năng thực hiện năm 2011
2.1. Các giải pháp chủ yếu thực hiện nhiệm vụ 6 tháng cuối năm
Tiếp tục chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong sản xuất, kinh doanh, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến về Luật HTX và các chế độ, chính sách ưu đãi đối với thành phần KTTT. Phát huy tính năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, đổi mới phương thức sản xuất kinh doanh, mạnh dạn chuyển đổi lĩnh vực kinh doanh đa ngành nghề. Xây dựng các mô hình kinh doanh tiêu biểu phù hợp với đặc điểm của địa phương.
Chỉ đạo các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách ưu đãi, hỗ trợ, khuyến khích phát triển HTX đặc biệt là các chính sách hỗ trợ khuyến khích thành lập, bồi dưỡng, đào tạo HTX và chính sách tín dụng.
Đẩy mạnh cải cách hành chính; thực hiện tốt công tác rà soát các thủ tục hành chính, giải quyết các khó khăn, vướng mắc về thủ tục đầu tư, đăng ký kinh doanh, tiếp cận vốn, mặt bằng sản xuất để hỗ trợ; đồng thời nâng cao năng lực, trình độ, tinh thần, trách nhiệm, đạo đức của đội ngũ cán bộ công chức trong thực thi công vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho KTTTphát triển.
2.2. Dự kiến khả năng thực hiện cả năm
Trong năm 2011, do chịu ảnh hưởng của những bất lợi về thời tiết, dịch bệnh, lạm phát, lãi suất tăng cao do vậy các chỉ số của KTTT về doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách,… khó đạt được như kế hoạch đã đề ra.
Công tác hỗ trợ, khuyến khích phát triển HTX, chủ yếu là hỗ trợ về bồi dưỡng, đào tạo và các chương trình, hỗ trợ khác đều khó thực hiện theo kế hoạch.
(Kết quả thực hiện theo biểu số 01, 02, 03 gửi kèm báo cáo)
II. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ NĂM 2012
1. Dự báo thuận lợi, khó khăn
1.1. Thuận lợi
Năm 2012, nền kinh tế của Tỉnh nói chung và phát triển kinh tế tập thể nói riêng tiếp tục có những thuận lợi cơ bản là: kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hôi, năng lực sản xuất kinh doanh ngày càng được bổ sung, tăng cường. Đảng và Nhà nước ngày càng quan tâm, có nhiều chủ trương, chính sách ưu tiên cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền núi, biên giới, vùng đặc biệt khó khăn; việc thực hiện có hiệu quả các chủ trương, giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, bình ổn giá, đảm bảo an sinh xã hội của Chính phủ,…tiếp tục tạo tiền đề cho kinh tế tập thể nói riêng và nền kinh tế của tỉnh nói chung phát triển.
1.2. Khó khăn
Bên cạnh đó, cũng phải đối mặt với những khó khăn, thách thức: Tình hình lạm phát của năm 2011 tiếp tục tác động xấu đến sản xuất và đời sống; những yếu kém vốn có của KTTT chưa được khắc phục như: Quy mô nhỏ bé, manh mún; khó tiếp cận các nguồn vốn tín dụng, thiếu vốn hoạt động, hiệu quả kinh doanh thấp; trình độ, năng lực của hầu hết cán bộ quản lý HTX chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa được đào tạo về cơ bản, thiếu tính nhạy bén và năng động… 
2. Mục tiêu
Phát triển KTTT với tốc độ tăng trưởng hợp lý và bền vững, tỷ trọng đóng góp ngày càng lớn vào GDP của tỉnh, phấn đấu cùng với kinh tế nhà nước giữ vai trò nền tảng trong nền kinh tế của tỉnh.
Phát triển số lượng, đồng thời củng cố và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của HTX và THT, tăng thu nhậpvà cải thiện đời sống của xã viên HTX và thành viên THT. Phấn đấu đến hết năm 2012 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn có khoảng 127 HTX (không bao gồm các HTX dịch vụ điện năng) với các chỉ tiêu cụ thể như sau:
- Phát triển mới được 12 HTX với ít nhất 100 xã viên.
- Tăng thu nhập bình quân của xã viên và người lao động từ 10,3 triệu đồng lên 11- 12 triệu đồng/năm.
- Tăng tỷ lệ HTX khá giỏi từ 36 % lên 39 %.
- Tăng tỷ lệ cán bộ quản lý HTX có trình độ đại học đạt 5 %; trình độ trung cấp đạt 16 %. Trên 80% cán bộ quản lý của HTX được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, kiến thức quản trị kinh doanh, quản lý HTX.
3. Định hướng và giải pháp chủ yếu phát triển KTTT năm 2012
3.1. Định hướng
Khuyến khích, tuyên truyền, vận động và hỗ trợ KTTT phát triển với nhiều hình thức hợp tác xã đa dạng, kinh doanh đa ngành nghề, các HTX xây dựng, công nghiệp, thương mại, dịch vụ... tiếp tục tăng về số lượng và chất lượng sản phẩm, dịch vụ, các HTX nông nghiệp chuyển sang hoạt động kinh doanh đa ngành nghề. Xây dựng kế hoạch liên doanh, liên kết giữa các HTX với nhau hoặc giữa HTX với các doanh nghiệp trên địa bàn nhằm mở rộng quy mô, lĩnh vực hoạt động, tăng năng lực và sức cạnh tranh trên thị trường.
Tiếp tục chỉ đạo các sở, ngành, UBND các huyện, thành phố tập trung các nguồn lực, thực hiện tốt, có hiệu quả các chủ trương, cơ chế, chính sách hỗ trợ của Nhà nước để hỗ trợ, tạo các điều kiện thuận lợi nhất cho KTTT phát triển và thụ hưởng các chính sách của Nhà nước.
3.2. Các giải pháp chủ yếu
Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền quán triệt sâu rộng về vị trí, vai trò, tính tất yếu khách quan của việc phát triển KTTT theo tinh thần Nghị quyết số 13/NQ-TW Hội nghị Trung ương 5 (khóa IX) về tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả KTTT. Tiến hành tổng kết đánh giá 10 năm thực hiện Nghị quyết số 13/NQ-TW Hội nghị Trung ương 5 (khóa IX), rút kinh nghiệm phục vụ cho xây dựng các chính sách phát triển KTTT.
Đẩy mạnh việc triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với KTTT về thuế, tín dụng, đất đai.. tạo điều kiện cho các HTX tham gia vào triển khai các trương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, các chương trình Quốc gia về lao động, việc làm, xoá đói, giảm nghèo, phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường, giải quyết các vấn đề xã hội, đảm bảo an sinh xã hội; tạo điều kiện thuận lợi cho các HTX tiếp cận với các hoạt động khuyến nông, khuyến công, khuyến ngư, xúc tiến thương mại... Hỗ trợ HTX vay vốn với lãi xuất ưu đãi để đầu tư đổi mới nâng cao dây truyền, thiết bị, công nghệ sản xuất, kinh doanh, hoạt động xúc tiến thương mại... nhằm tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Miễn thuế thu nhập cho các HTX nông, lâm, thuỷ sản và các HTX dịch vụ phi lợi nhuận. Tổ chức nghiên cứu học tập các mô hình HTX, Liên hiệp HTX ở các tỉnh, thành phố có phong trào HTX phát triển.
Tiếp tục hướng dẫn các HTX đổi mới tổ chức, quản lý nhằm phát huy quyền làm chủ của xã viên, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Vận động xã viên HTX nâng mức vốn góp và vận động các HTX thu hút thêm xã viên; khuyến khích việc sáp nhập, hợp nhất HTX cùng ngành nghề và địa bàn hoạt động để tăng năng lực tài chính và mở rộng quy mô hoạt động khi có đủ điều kiện. Tập trung củng cố các HTX yếu kém; đánh giá, phân tích tổng hợp các HTX để lựa chọn ra những HTX kinh doanh hiệu quả làm nòng cốt, xây dựng các mô hình điểm để nhân rộng và tuyên truyền, thu hút thêm nhiều người tham gia phát triển HTX.
Tăng cường công tác bồi dưỡng, tập huấn nhằm nâng cao năng lực quản lý, điều hành của Ban quản trị và các chức danh quản lý trong các đơn vị KTTT.
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý nhà nước về KTTT, kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước đối với KTTT phù hợp với yêu cầu, điều kiện thực tế nhất là
ở cấp huyện, cấp xã.
Các cấp, các ngành cần tăng cường công tác hướng dẫn, tư vấn, kiểm tra, giám sát việc thi hành luật HTX và việc triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển HTX trên địa bàn tỉnh.
III. ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP, CHÍNH SÁCH, CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ
Đề nghị Quốc hội nghiên cứu sửa đổi Luật Hợp tác xã; đồng thời rà soát, sửa đổi, điều chinh lại toàn bộ các Nghị định, Thông tư cho phù hợp với Luật Hợp tác xã và tình hình thực tế hiện nay.
Đề nghị Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành trung ương xây dựng các chương trình cụ thể  về hỗ trợ phát triển KTTT, ban hành các chính sách ưu đãi, hỗ trợ về đầu tư, lao động, vốn, tín dụng, đất đai cho các thành phần KTTT; các chính sách hỗ trợ cần chi tiết, cụ thể và sát với thực tế của HTX nói chung.
Chỉ đạo các đơn vị, các ngành quan tâm, hỗ trợ KTTT từ nhiều mặt như: đẩy mạnh hỗ trợ tư vấn, cải cách thủ tục hành chính; hàng năm các ngành, các huyện, thành phố chủ động xây dựng kế hoạch hỗ trợ KTTT trong phạm vi địa bàn.
Tiếp tục khuyến khích các thành phần KTTT đổi mới phương thức hoạt động; mở rộng lĩnh vực ngành nghề kinh doanh theo hướng đa ngành, nghề. Vận động các HTX mạnh dạn vay vốn đầu tư, đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ, tái đầu tư mở rộng sản xuất; chủ động xây dựng các phương án liên doanh, liên kết với các HTX hoặc các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh; nâng cao nhận thức về pháp lý, môi trường kinh doanh và xu thế hội nhập kinh tế cho phù hợp với tình hình mới.
Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động của thành phần KTTT; tiếp tục nâng cao năng lực của cơ quan đăng ký kinh doanh và các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan tư vấn, hỗ trợ KTTT tại địa phương cả về nhân sự và hỗ trợ về kỹ thuật (phần mềm quản lý) để có thể thực hiện được tốt chức năng, nhiệm vụ theo quy định.
Trên đây là tổng hợp tình hình phát triển kinh tế tập thể năm 2011 và kế hoạch phát triển kinh tế tập thể năm 2012 trên địa bàn, UBND tỉnh Lạng Sơn trân trọng báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư theo yêu cầu./.
 

 
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
 
 
 
Nguyễn Văn Bình

 

VĂN PHÒNG UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN

Trưởng Ban Biên tập: Nguyễn Hữu Chiến, Chánh Văn Phòng UBND tỉnh.

Địa chỉ : Đường Hùng Vương, phường Chi Lăng, Thành phố Lạng Sơn.

Điện thoại : 025 3812 605 – Fax: 025 3812 336 ; Email : vanphong@langson.gov.vn hoặc ubndls@langson.gov.vn

Thiết kế và xây dựng : Công ty cổ phần Công Nghệ Bình Minh www.binhminh.com.vn