Liên kết Websites
Sở Ban ngành, Huyện thị
Thống kê truy cập



myspace tracker

Đầu tư công năm 2018 tỉnh Lạng Sơn (lần thứ nhất)

ỦY BAN NHÂN DÂN

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:  144/KH-UBND

Lạng Sơn, ngày  14 tháng 8  năm 2017

 

 

KẾ HOẠCH

Đầu tư công năm 2018 tỉnh Lạng Sơn (lần thứ nhất)

                           

                        Kính gửi:

                                       - Bộ Kế hoạch và Đầu tư;

                                      - Bộ Tài chính.

Căn cứ Luật Đầu tư công ngày 18/6/2014;

Căn cứ Nghị định số 77/2015/NĐ-CP ngày 10/9/2015 của Chính phủ về kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm;

Căn cứ hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại Công văn số 5598/BKHĐT-TH ngày 10/7/2017 về việc lập kế hoạch đầu tư công năm 2018,

Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn lập kế hoạch đầu tư công năm 2018, với nội dung như sau:

I. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ CÔNG NĂM 2017

1. Tình hình thực hiện và giải ngân kế hoạch đầu tư công 6 tháng đầu năm và ước thực hiện cả năm 2017

Tổng vốn đầu tư phát triển nguồn Ngân sách nhà nước (NSNN) 6 tháng đầu năm 2017 do tỉnh quản lý 2.169,2 tỷ đồng (trong đó giao từ đầu năm 2.001,2 tỷ đồng, giao bổ sung là 168,0 tỷ đồng)[1]. cụ thể các nguồn vốn:

- Vốn cân đối ngân sách địa phương (NSĐP) : 1.037,6 tỷ đồng, trong đó: Cân đối NSĐP theo nguyên tắc tiêu chí 683,1 tỷ đồng (bao gồm 271,990 tỷ đồng; thu từ xổ số kiến thiết 11,5 tỷ đồng; thu phí bến bãi 100 tỷ đồng; vốn thu từ sử dụng đất 243 tỷ đồng.

- Nguồn vốn ngân sách trung ương (NSTW) đầu tư theo các Chương trình mục tiêu và Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) là 821,555 tỷ đồng, trong đó: Chương trình MTQG là 379,603 tỷ đồng (Chương trình xây dựng nông thôn mới: 176,560 tỷ đồng; Chương trình giảm nghèo bền vững : 203,043 tỷ đồng); vốn đầu tư theo các chương trình mục tiêu: 441,952 tỷ đồng.

- Vốn nước ngoài (ODA) là 310,07 tỷ đồng. 

Ngay từ đầu năm, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tập trung chỉ đạo, triển khai thực hiện phân bổ, giao kế hoạch vốn đầu tư công kịp thời đúng mục tiêu, cơ cấu, định mức và danh mục theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh. Các dự án khởi công mới, dự án chuyển tiếp, nhất là dự án dự kiến hoàn thành năm 2017 được tập trung chỉ đạo, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ, giám sát chặt chẽ chất lượng công trình. Trong 6 tháng đầu năm khởi công xây dựng 8/18 dự án, hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng 10 dự án (không kể các dự án khởi công mới thuộc chương trình MTQG). Một số dự án khởi công chậm do còn vướng mắc về giải phóng mặt bằng, khả năng bố trí vốn còn thấp so với tổng mức đầu tư; một số chủ đầu tư lúng túng trong việc thực hiện các thủ tục đầu tư theo Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng.

Riêng đối với các dự án thuộc Chương trình MTQG, việc triển khai các thủ tục để đủ điều kiện khởi công còn chậm. Nguyên nhân chủ yếu là do thủ tục phức tạp, chậm được hướng dẫn từ phía bộ chủ quản; Ủy ban nhân dân các huyện còn lúng túng trong triển khai thực hiện các quy trình về thủ tục dự án theo quy định của Luật Đầu tư công; công tác rà soát xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm của các huyện chưa được quan tâm đúng mức, nên thông tin số liệu còn thiếu chính xác; danh mục, quy mô, tổng mức đầu tư dự án đề xuất còn chưa phù hợp với thực tế nên phải điều chỉnh bổ sung nhiều lần.

Khối lượng thực hiện các nguồn vốn 6 tháng đầu năm 1.549,4 tỷ đồng, đạt 71,4 % kế hoạch, trong đó: Vốn cân đối NSĐP 900,614 tỷ đồng, đạt 86,8% kế hoạch, vốn NSTW hỗ trợ có mục tiêu 313,791 tỷ đồng, bằng 71% kế hoạch; vốn Chương trình MTQG 178,839 tỷ đồng, đạt 47,1% kế hoạch; vốn ODA 156,202 tỷ đồng, đạt 50% kế hoạch.  

Giá trị giải ngân các nguồn vốn 6 tháng đầu năm thực hiện 1.310,486 tỷ đồng, đạt 60,4 % kế hoạch, bằng 84,5% khối lượng thực hiện trong đó: Vốn cân đối NSĐP 713,099 tỷ đồng, đạt 68,7% kế hoạch; vốn NSTW hỗ trợ có mục tiêu 280,542 tỷ đồng, bằng 63,4% kế hoạch; vốn Chương trình MTQG 142,265 tỷ đồng, đạt 37,5% kế hoạch; vốn ODA 174,580 tỷ đồng, đạt 56,3% kế hoạch

(Chi tiết có biểu số 01 kèm theo).

2. Tình hình xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản

Việc rà soát, xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản (XDCB) được thực hiện nghiêm túc theo Chỉ thị số 07/CT-TTG ngày 30/4/2015 của Thủ tướng Chính phủ. Thực hiện bố trí vốn theo nguyên tắc, thứ tự ưu tiên như: thanh toán nợ, chuyển tiếp, sau đó mới bố trí cho dự án khởi công mới thật sự cần thiết. Tổng số nợ đọng XDCB đã rà soát đến 31/12/2015 là 1.208,159 tỷ đồng. Năm 2016 đã bố trí trả nợ xây dựng cơ bản là 392,303 tỷ đồng, tỷ đồng. Kế hoạch năm 2017 đã bố trí 249,311 tỷ đồng[2] thanh toán nợ (bằng 30,6% tổng số nợ). Bổ sung kế hoạch vốn 6 tháng đầu năm đã bố trí 10 tỷ đồng/34,33 tỷ đồng để thanh toán số nợ xây dựng cơ bản của Chương trình kiên cố hóa trường lớp học. Tổng số nợ còn lại là 556,545 tỷ đồng.

Năm 2016, số nợ XDCB phát sinh là 495,47 tỷ đồng[3]. Số nợ phát sinh chủ yếu là nợ khối lượng, do số vốn Trung ương bố trí chưa đủ theo kế hoạch vốn NSTW đã được thẩm định nguồn; vốn ngân sách tỉnh còn khó khăn nên việc bố trí kế hoạch vốn một số dự án chưa đảm bảo theo cơ cấu 3 năm đối với nhóm C và 5 năm đối với nhóm B; một số dự án cần tập trung đẩy nhanh tiến độ, có khối lượng thực hiện cao hơn số kế hoạch vốn được bố trí như: một số dự án trọng điểm; một số dự cần hoàn thành sớm để đưa vào sử dụng, phát huy hiệu quả đầu tư; một số dự án của các xã điểm thuộc Chương trình xây dựng nông thôn mới cần đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành trong năm để đáp ứng đủ tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới.   

Để kiểm soát và xử lý nợ đọng XDCB, trong năm 2018 tiếp tục ưu tiên bố trí vốn cho thanh toán nợ, hạn chế khởi công mới những dự án chưa thực sự cấp thiết, Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp tục chỉ đạo rà soát các dự án để xem xét giảm quy mô, hoãn, giãn tiến độ phù hợp với khả năng cân đối vốn của địa phương; chỉ đạo các chủ đầu tư, các cơ quan chức năng liên quan khẩn trương quyết toán các công trình hoàn thành, thực hiện rà soát, điều chỉnh vốn các dự án không có khả năng giải ngân để điều hòa thanh toán, huy động các nguồn vốn bổ sung cho các dự án hoàn thành, tiến độ triển khai nhanh; rà soát các dự án đã quyết toán, hoàn thành còn dư vốn thực hiện thanh toán dứt điểm cho các dự án đã phê duyệt quyết toán có giá trị nợ dưới 200 triệu đồng.

3. Các khó khăn, vướng mắc và những tồn tại, hạn chế trong việc triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư công năm 2017

 Giá trị khối lượng thực hiện, giải ngân thanh toán các dự án còn đạt thấp so với kế hoạch. Nguyên nhân là do một số chủ đầu tư, một số huyện chậm triển khai thực hiện kế hoạch được giao; việc xác định danh mục, thủ tục đầu tư và trình thẩm định phê duyệt các dự án khởi công mới thuộc Chương trình MTQG còn chậm.

Huy động các nguồn vốn bổ sung cho đầu tư phát triển chưa đáp ứng được yêu cầu, nhất là nhu cầu vốn cho các dự án lớn, các dự án trong khu kinh tế cửa khẩu; việc huy động vốn thông qua các hình thức đầu tư đối tác công tư (PPP), xã hội hóa đầu tư còn hạn chế và lúng túng trong việc thực hiện trình tự thủ tục đầu tư. Một số nguồn vốn hỗ trợ từ NSTW giao chậm: Nguồn vốn Trái phiếu chính phủ đến nay chưa được giao kế hoạch vốn năm 2017 và kế hoạch vốn trung hạn; nguồn vốn Chương trình MTQG chưa được giao kế hoạch vốn trung hạn.

Năng lực chỉ đạo, điều hành, quản lý của một số chủ đầu tư còn hạn chế. Một số nhà thầu hạn chế về năng lực, nhất là năng lực về tài chính hoặc tham gia thực hiện nhiều dự án cùng một lúc nên năng lực bị phân tán, chưa chủ động huy động nguồn vốn để triển khai theo kế hoạch được phê duyệt.

Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư vẫn còn nhiều vướng mắc, nhất là việc di dời nhà ở, di dời mồ mả; các công trình công cộng như: đường điện, cáp viễn thông, ống cấp nước,... chậm được di chuyển, không kịp thời bàn giao mặt bằng cho nhà thầu thi công theo tiến độ. 

Một số chủ đầu tư chưa thực sự chủ động kiểm tra, đôn đốc, chưa chú trọng công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng cả về hồ sơ và thi công tại hiện trường.

4. Các giải pháp thực hiện trong 6 tháng cuối năm

 Tích cực huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển từ sự hỗ trợ của bộ, ngành trung ương, từ nguồn tăng thu ngân sách; tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất các khu đất đã giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng không hiệu quả để tạo nguồn vốn cho đầu tư; huy động đủ vốn điều lệ cho Quỹ đầu tư phát triển để triển khai cho các dự án vay vốn; tiếp tục rà soát các dự án đầu tư công để xem xét dừng, dãn, giảm quy mô giai đoạn 2016-2020; triển khai các dự án theo hình thức PPP; phấn đấu tăng thu ngân sách, tiết kiệm chi để bổ sung cho đầu tư phát triển.

Thực hiện tốt công tác cải cách thủ tục hành chính trong công tác thẩm tra, thẩm định, phê duyệt dự án theo đúng quy định; xử lý linh hoạt, kịp thời, đảm bảo chất lượng; tham mưu ban hành hướng dẫn, tập huấn các Luật,  Nghị định mới ban hành: Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, Nghị định đầu tư theo hình thức đối tác công tư PPP,...

Các chủ đầu tư, Ban quản lý dự án, nhất là Ban quản lý dự án cấp huyện tiếp tục bổ sung, kiện toàn, nâng cao năng lực quản lý, điều hành; kiểm điểm nghiêm túc, có biện pháp xử lý đối với các tổ chức, cá nhân làm việc thiếu tinh thần trách nhiệm dẫn đến làm sai sót, chậm công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, chậm tiến độ dự án; kiên quyết xử lý thay thế các nhà thầu năng lực yếu kém, thi công chậm tiến độ.

Tập trung triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch, chính sách mới liên quan đến đầu tư xây dựng làm cơ sở điều hành phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020 và những năm tiếp theo, như: Chương trình phát triển khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng-Lạng Sơn; Chương trình phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, trọng tâm là hạ tầng giao thông; Chương trình tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới;

Rà soát, điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn phù hợp với tình hình triển khai dự án và khả năng cân đối ngân sách trong giai đoạn.

II. KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ CÔNG NĂM 2018

1. Nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư công năm 2018

Kế hoạch đầu tư công năm 2018 phải nhằm góp phần thực hiện các mục tiêu và các định hướng phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và các quy hoạch ngành của tỉnh; phù hợp với kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016 - 2020. Gắn việc xây dựng kế hoạch đầu tư công năm 2018 với việc thực hiện tái cơ cấu kinh tế và đột phá xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ.

 Việc lập kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2018 theo các nguyên tắc cụ thể dưới đây:

 1.1. Phải phù hợp với quy định của Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước, Nghị quyết số 1023/NQ-UBTVQH13 ngày 28/8/2015 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Quyết định số 40/2015/QĐ-TTg ngày 14/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ về nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn đầu tư nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2016 - 2020; phù hợp với kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016 - 2020 đã được phê duyệt.

1.2. Phải được xây dựng trên cơ sở tiếp tục cơ cấu lại đầu tư nguồn NSNN theo hướng tập trung, khắc phục dàn trải, nâng cao hiệu quả đầu tư.

1.3.  Tổng mức kế hoạch vốn đầu tư nguồn NSNN năm 2018 dự kiến bố trí cho từng ngành, lĩnh vực, chương trình không vượt quá số vốn còn lại của kế hoạch đầu tư trung hạn nguồn NSNN đã được giao kế hoạch (tại Quyết định số 572/QĐ-BKHĐT ngày 20/4/2017 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc giao chi tiết kế hoạch đầu tư trung hạn vốn ngân sách nhà nước giai đoạn 2016-2020 và kế hoạch trung hạn tại Nghị quyết số 23/2016/NQ-HĐND ngày 09/12/2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh) trừ đi số vốn đã được giao trong kế hoạch năm 2016 và năm 2017.

1.4.  Việc phân bổ kế hoạch vốn đầu tư cho các dự án phải theo nguyên tắc sau:

- Phương án phân bổ chi tiết kế hoạch đầu tư vốn NSNN năm 2018 cho từng dự án phải phù hợp và không được vượt quá số vốn còn lại của kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước giai đoạn 2016 - 2020 đã được cấp có thẩm quyền giao kế hoạch sau khi trừ đi số vốn đã bố trí trong kế hoạch năm 2016 và năm 2017.

- Phải phù hợp với khả năng thực hiện và giải ngân trong năm 2018.

1.5.   Việc phân bổ vốn phải bảo đảm theo thứ tự ưu tiên sau:

- Ưu tiên bố trí vốn để thu hồi các khoản vốn ứng trước; thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản.

- Dự án đã hoàn thành và bàn giao đưa vào sử dụng nhưng chưa bố trí đủ vốn; dự án dự kiến hoàn thành trong năm kế hoạch; vốn đối ứng cho dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài; vốn đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo hình thức đối tác công tư;

- Dự án chuyển tiếp thực hiện theo tiến độ được phê duyệt;

- Dự án khởi công mới có đầy đủ thủ tục đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư công, Nghị định số 77/2015/NĐ-CP ngày 10/ 9/2015 của Chính phủ.  

1.6.  Không bố trí vốn kế hoạch nguồn ngân sách nhà nước năm 2018 cho các dự án không thuộc nhiệm vụ chi đầu tư nguồn ngân sách nhà nước, không được cấp có thẩm quyền giao kế hoạch đầu tư trung hạn vốn ngân sách nhà nước giai đoạn 2016-2020.

2. Dự kiến kế hoạch đầu tư công năm 2018

Căn cứ tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư công 6 tháng đầu năm và ước thực hiện cả năm 2017, Kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016 - 2020, khả năng cân đối nguồn vốn trong năm 2018; khả năng thực hiện và giải ngân của từng dự án trong năm 2018, dự kiến Kế hoạch đầu tư công năm 2018 như sau:

2.1. Nhu cầu kế hoạch đầu tư công năm 2018:

Căn cứ Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2016-2020 tỉnh Lạng Sơn, nhu cầu kế hoạch đầu tư công năm 2018 của tỉnh Lạng Sơn là 4.404 tỷ đồng, gồm: Vốn NSNN là 3.881 tỷ đồng (trong đó: vốn trong nước 3.457 tỷ đồng; vốn ngoài nước ODA 424 tỷ đồng); vốn Trái phiếu chính phủ (TPCP) là 323 tỷ đồng; Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là 200 tỷ đồng.

2.2. Dự kiến kế hoạch đầu tư công năm 2018:

a) Dự kiến các nguồn vốn:

          Vốn đầu tư công năm 2018 tỉnh Lạng Sơn được xác định trên nguyên tắc: Số dự kiến bố trí kế hoạch 2018 không vượt quá số vốn còn lại của kế hoạch đầu tư công trung hạn đã được giao trừ đi số vốn đã được giao trong kế hoạch năm 2016 và năm 2017 (đối với các nguồn chưa được Trung ương giao chi tiết vốn trung hạn, thì xác định trên cơ sở số thông báo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư như: vốn Chương trình mục tiêu quốc gia, vốn TPCP).

Dự kiến tổng vốn là 2.668 tỷ đồng (bằng 60,5% nhu cầu), trong đó bố trí thu hồi ứng trước ngân sách trung ương (NSTW) là 20 tỷ đồng, thu hồi tạm ứng ngân sách địa phương 280 tỷ đồng; thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản là 188,4 tỷ đồng; Cụ thể các nguồn vốn như sau:

a1) Vốn ngân sách nhà nước: 2.330 tỷ đồng, trong đó:

(1) Vốn đầu tư phát triển trong cân đối ngân sách địa phương 903,7 tỷ đồng[4], trong đó bố trí thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản là 173,3 tỷ đồng, thực hiện 133 dự án (59 dự án hoàn thành, 72 dự án chuyển tiếp, 02 dự án khởi công mới), cụ thể:

- Cân đối ngân sách địa phương (NSĐP) theo nguyên tắc tiêu chí: 452,2 tỷ đồng;

- Đầu tư từ nguồn sử dụng đất: 160 tỷ đồng;

- Đầu tư từ nguồn thu xổ số kiến thiết: 11,5 tỷ đồng;

- Thu hồi tạm ứng: 280 tỷ đồng.

 (2) Vốn NSTW: 1.427 tỷ đồng, trong đó[5]:

- Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG): 531 tỷ đồng (Chương trình xây dựng nông thôn mới: 290 tỷ đồng; Chương trình giảm nghèo bền vững: 241 tỷ đồng) 

- Hỗ trợ nhà ở cho người có công với cách mạng theo QĐ 22/QĐ-TTg: 106,2 tỷ đồng

-  Các chương trình mục tiêu vốn trong nước 486,4 tỷ đồng; Trong đó bố trí thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản là 15,1 tỷ đồng; thu hồi ứng trước NSTW là 5 tỷ đồng; bố trí thực hiện 23 dự án (5 dự án hoàn thành, 18 dự án chuyển tiếp)

- Vốn ngoài nước ODA 288,4 tỷ đồng, bố trí thực hiện 08 dự án (1 dự án hoàn thành, 7 dự án chuyển tiếp)

- Thu hồi ứng trước của các dự án ngoài chương trình mục tiêu: 15 tỷ đồng.

a3) Vốn Trái phiếu Chính phủ: 267 tỷ đồng

a2) Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước: 70 tỷ đồng

3. Khó khăn, vướng mắc trong việc lập kế hoạch đầu tư công năm 2018

Nhu cầu đầu tư lớn, chủ yếu là các dự án hoàn thành, chuyển tiếp và phải dành cho bố trí thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản (XDCB); trong khi nguồn vốn rất hạn hẹp, mặc dù tỉnh đã chỉ đạo thực hiện rà soát dừng dự án, cắt giảm quy mô, giãn hoãn tiến độ một số dự án chưa thực sự cần thiết. Song, khả năng cân đối vốn vẫn không đảm bảo, đặc biệt có dự án nhóm B đã có thời gian bố trí vốn quá 5 năm, nhóm C quá 3 năm, phải thực hiện các thủ tục kéo dài thời gian bố trí vốn.

Kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016-2020 đã được giao tại Quyết định số 572/QĐ-BKHĐT ngày 20/4/2017 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Tuy nhiên còn một số nguồn vốn chưa được giao (nguồn vốn Chương trình MTQG và vốn TPCP); nguồn vốn đầu tư trong cân đối theo tiêu chí, nguyên tắc của tỉnh bị giảm mạnh; một số dự án sử dụng vốn NSTW hỗ trợ có mục tiêu đã được thẩm định nguồn, phê duyệt từ cuối năm 2015, trong giai đoạn 2016-2020 NSTW không bố trí đủ theo số vốn đã thẩm định, địa phương phải cam kết bố trí phần vốn còn thiếu từ ngân sách địa phương và các nguồn vốn khác,… nên gặp rất nhiều khó khăn trong công tác lập kế hoạch năm 2018.

 Trong quá trình triển khai thực hiện các dự án, do một số dự án đang thực hiện trong năm kế hoạch cần thiết hoàn thành để đảm bảo phát huy hiệu quả đầu tư, đạt tiêu chí nông thôn mới... nhưng còn thiếu vốn thanh toán trong kỳ kế hoạch, do đó vẫn còn phát sinh nợ XDCB.

Việc thẩm định vốn đối với Chương trình MTQG còn phụ thuộc quá nhiều cấp, thủ tục rườm rà nên hầu hết các dự án khởi công mới trong năm đều chậm.

Thực hiện chế độ báo cáo theo Thông tư số 03/2017/TT-BKHĐT còn khó khăn, do hệ thống bảng, biểu theo Thông tư còn nhiều bất cập (hệ thống bảng biểu của Chương trình mục tiêu và Chương trình MTQG không có dữ liệu thông tin dự án, không có tổng mức đầu tư dự án dẫn đến việc theo dõi và lập kế hoạch khó thực hiện). Hệ thống đầu tư công qua mạng vẫn còn nhiều lỗi chưa xử lý được (Nhầm lẫn số liệu, chủ đầu tư, thiếu dữ liệu vốn…), dẫn đến việc nhập thông tin báo cáo qua mạng về Bộ Kế hoạch và Đầu tư chưa đúng theo thời hạn yêu cầu.

Hầu hết các Sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện gửi báo cáo chậm, nội dung báo cáo chưa theo biểu mẫu hướng dẫn; số liệu một số dự án không đồng nhất với các báo cáo trước nên công tác tổng hợp, rà soát gặp nhiều khó khăn. Khối lượng công việc lớn, thời gian báo cáo gấp nên tiến độ gửi báo cào về Bộ Kế hoạch và Đầu tư không đảm bảo theo tiến độ yêu cầu.

4. Đề xuất, kiến nghị  triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư công năm 2018

Đề nghị thực hiện phân cấp cho địa phương mạnh hơn trong khâu thẩm định nguồn vốn Chương trình MTQG, do danh mục các dự án thuộc Chương trình này nhiều nhưng tổng vốn đầu tư không lớn, trong khi đó đã được quy định rõ về định mức hỗ trợ và tổng nguồn đã được phân bổ trong kế hoạch trung hạn.

Vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 của tỉnh Lạng Sơn bị giảm mạnh so với số lập kế hoạch và số được Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua (1.136,075 tỷ đồng). Đồng thời, tỉnh Lạng Sơn phải cam kết sử dụng nguồn vốn cân đối NSĐP bố trí phần vốn còn thiếu của các dự án theo các chương trình mục tiêu khoảng 1.202 tỷ đồng. Trong khi đó, nhu cầu vốn đầu tư cho các dự án đang thực hiện rất lớn và chủ yếu là dự án trọng điểm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh rất khó khăn trong việc cắt giảm, dừng hoãn, chuyển đổi hình thức đầu tư. Đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư xem xét, báo cáo Chính phủ bổ sung vốn trung hạn cho tỉnh Lạng Sơn để giảm bớt khó khăn về nguồn vốn, đảm bảo cân đối đủ vốn cho các dự án đang triển khai thực hiện góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

 Đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư rà soát lại các thông tin dữ liệu dự án trên Hệ thống quản lý đầu tư công (hiện nay trên hệ thống quản lý đầu tư công chỉ mới đề cập tới nguồn ngân sách trung ương) và sớm triển khai và đưa nguồn vốn ngân sách địa phương lên hệ thống để quản lý đồng bộ. Tiếp tục bố trí các lớp tập huấn về sử dụng Hệ thống quản lý đầu tư công trong công tác xây dựng kế hoạch tại các địa phương, hướng dẫn cụ thể cho các chủ đầu tư, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố trong việc khai thác và sử dụng hệ thống.

   Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn trân trọng đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính xem xét, tổng hợp./.

 

 

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

 

 

Lý Vinh Quang



[1] Ngân sách tỉnh bổ sung từ nguồn thu sử dụng đất là 83 tỷ đồng; Vốn ngân sách trung ương giao đợt 2 là 35 tỷ đồng (vốn đầu tư theo các chương trình mục tiêu là 25 tỷ đồng và vốn nước ngoài 10 tỷ đồng). Chương trình MTQG 50,027 tỷ đồng.

 

[2] Vốn NSĐP bố trí 219,048 tỷ đồng; Vốn Chương trình mục tiêu 468 triệu đồng; Vốn Chương trình MTQG 29,795 tỷ đồng

[3] NSĐP 237,87 tỷ đồng; Chương trình mục tiêu 200 tỷ đồng, Chương trình MTQG NTM 57,6 tỷ đồng.

[4] Cân đối NSĐP theo nguyên tắc tiêu chí: 452,2 tỷ đồng (tăng 10% so với số dự toán Trung ương giao năm 2017, không bao gồm chi trả nợ gốc); Đầu tư từ nguồn sử dụng đất: 160 tỷ đồng (bằng dự toán địa phương giao năm 2017); Đầu tư từ nguồn thu xổ số kiến thiết: 11,5 tỷ đồng (bằng dự toán địa phương giao năm 2017); Thanh toán các khoản vay đến hạn: 280 tỷ đồng (dự kiến từ nguồn tăng thu sử dụng đất và thu phí hạ tầng).

[5] Chương trình xây dựng nông thôn mới: 290  tỷ đồng (lấy trung bình của số trung hạn còn lại chia 3 năm và không kể vốn sự nghiệp); Chương trình giảm nghèo bền vững: 241 tỷ (dự kiến theo nhu cầu: tổng số133 xã, 121 thôn thuộc đối tượng nhân với định mức và không kể vốn sự nghiệp); Hỗ trợ nhà ở cho người có công với cách mạng theo QĐ 22/QĐ-TTg: 106,2 tỷ đồng (bố trí theo số trung hạn được giao);  Các chương trình mục tiêu vốn trong nước 486,4 tỷ đồng (tăng 10% so với số dự toán Trung ương giao năm 2017); Vốn ngoài nước ODA 288,4 tỷ đồng (dự kiến theo nhu cầu, tiến độ thực hiện); Vốn Trái phiếu Chính phủ: 267 tỷ đồng (theo nhu cầu); Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước 70 tỷ đồng (theo nhu cầu). 

 

 

VĂN PHÒNG UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN

Trưởng Ban Biên tập: Chánh Văn Phòng UBND tỉnh.

Địa chỉ : Đường Hùng Vương, phường Chi Lăng, Thành phố Lạng Sơn.

Điện thoại : 025 3812 605 – Fax: 025 3812 336 ; Email : vanphong@langson.gov.vn hoặc ubndls@langson.gov.vn

Thiết kế và xây dựng : Công ty cổ phần Công Nghệ Bình Minh www.binhminh.com.vn