Thông tin thời tiết
Lạng Sơn23
Hà nội 26
Đà Nẵng25
Hồ Chí Minh25
Danh sách sở, ban, ngành

Nông nghiệp Lạng Sơn tạo động lực cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Thứ Bảy, 11/08/2007 - 08:53

Sau nhiều năm thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tỷ trọng ngành nông nghiệp Lạng Sơn trong GDP đã giảm từ 55,46% (năm 1991) xuống còn 45,19% (năm 2003). Cơ cấu kinh tế nông nghiệp đang từng bước chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi, giảm tỷ trọng trồng trọt và đã bắt đầu hình thành các vùng sản xuất hàng hoá trong vài năm trở lại đây. Nông nghiệp phát triển toàn diện và bền vững không những là nền tảng cơ bản mà còn giữ vai trò thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển.

 

Đối với kinh tế Lạng Sơn, nông nghiệp vẫn là một trong những ngành chiếm vị trí quan trọng hàng đầu. Với trên 81% dân số sống ở nông thôn, trên 76% dân số và hơn 80% lao động làm nông nghiệp, nông nghiệp quyết định đời sống của phần lớn dân cư, giải quyết việc làm và tạo thu nhập cho họ. Nông nghiệp là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm chủ yếu, đồng thời là nguồn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, cung cấp sản phẩm hàng hoá cho xã hội, góp phần tạo nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho Lạng Sơn.

Hiệu quả nhờ vận dụng linh hoạt các cơ chế, chính sách

Lạng Sơn là tỉnh miền núi, biên giới phía bắc với diện tích đất tự nhiên 830.521 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng là 68.958 ha, chiếm 8,3%; đất lâm nghiệp có rừng là 322.820 ha, chiếm 38,87%. Nhằm đẩy mạnh quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tích cực, khai thác tối đa tiềm năng, thế mạnh sẵn có, tỉnh Lạng Sơn đã cụ thể hóa, vận dụng linh hoạt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào điều kiện thực tế của ngành nông nghiệp địa phương. Tỉnh đã xây dựng hơn 10 cơ chế, chính sách khuyến khích kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Mùa gặt

nh: Tư liệu

Trong đó, chính sách trợ giá, trợ cước giống cây lương thực, được tỉnh bắt đầu áp dụng từ năm 1992. Tính đến năm 2003, nguồn kinh phí hàng tỷ đồng được trích từ ngân sách địa phương đã góp phần đưa nhanh tỷ lệ giống mới vào sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Hiện nay, cơ cấu giống lúa trên địa bàn tỉnh đã có sự thay đổi lớn. Các giống lúa mới có năng suất cao, chịu hạn, chịu sâu bệnh, phù hợp với điều kiện đất đai đã thay thế dần các giống lúa địa phương. Các giống lúa chủ yếu là lúa lai nhập từ Trung Quốc và các loại lúa thuần nhập từ Quảng Ninh và Nam Định.

Trong các loại hoa màu, lương thực, cây ngô đã được xác định là cây trồng chủ lực và có tiềm năng lớn. Để chuyển dịch cơ cấu sản xuất trên đất ruộng, đất nương bãi, cây ngô đã được phát triển mạnh trên đất chân ruộng một vụ thiếu nước và trên đất bãi nhằm tăng hệ số lần sử dụng đất. Các giống ngô lai chủ yếu nhập từ tập đoàn ngô Bioseed, ngô lai VN10,... có năng suất cao.

Bên cạnh đó, ngành rất coi trọng công tác khuyến nông. Trong đó, riêng chính sách đối với khuyến nông viên được thực hiện ngay từ năm 1993 với chế độ trợ cấp 200 nghìn đồng/người/tháng. Đến năm 2003, 100% xã đã có khuyến nông viên. Công tác khuyến nông không ngừng được nâng cao về chất lượng hoạt động, hàng ngàn cuộc tập huấn kỹ thuật cho hàng chục ngàn người được tổ chức. Các mô hình trình diễn được triển khai tới tận thôn bản vùng sâu, vùng xa để đồng bào các dân tộc được tai nghe, mắt thấy từng giống mới, kỹ thuật mới, từ đó làm thay đổi nhận thức và tập quán canh tác cho bà con.

Nhờ đó, Lạng Sơn từ chỗ thiếu lương thực, đến nay an ninh lương thực trên địa bàn đã được đảm bảo. Sản xuất nông nghiệp đã từng bước chuyển từ thuần nông, tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Năng suất, sản lượng lương thực của tỉnh ổn định và tăng trưởng tương đối đều qua các năm với tốc độ tăng trưởng bình quân trên 6%/năm. Tổng sản lượng lương thực năm 2004 đạt trên 264,794 nghìn tấn, tăng 4,87% so với năm 2003.

Trong lĩnh vực chăn nuôi, ngành đã chú trọng đầu tư theo hướng chăn nuôi công nghiệp, sử dụng các loại giống cho năng suất cao, hình thành một số mô hình chăn nuôi trang trại các loại gia súc, gia cầm. Để khai thác, tận dụng các vùng đồi cỏ, tỉnh đã ban hành cơ chế hỗ trợ lãi suất cho các hộ nông dân phát triển đàn bò. Trong những năm gần đây, ngành đang dần thay thế, cải tạo đàn bò bằng giống bò lai sind. Tính đến năm 2004, đàn bò có 48.773 con; đàn trâu có 188.687 con; đàn gia cầm có hơn 3 triệu con, trong đó 80% là các giống mới như: gà Tam Hoàng, gà Lương Phượng, vịt siêu trứng; đàn lợn có 333.580 con, trong đó hơn 80% đàn lợn sử dụng giống lợn hướng nạc.

Năm 2003, toàn tỉnh đã hoàn thành công tác giao đất, giao rừng cho các tổ chức, các hộ gia đình, cá nhân quản lý, bảo vệ, khoanh nuôi, tái sinh phục hồi rừng tự nhiên. Bằng cơ chế hỗ trợ lãi suất trồng cây ăn quả, trồng các vùng rừng nguyên liệu giấy, đến năm 2003, tiến độ trồng rừng tăng nhanh đã đưa diện tích trồng rừng mới của tỉnh đạt gần 14.871 ha, tăng 33% so với năm 2002, đưa độ che phủ rừng lên mức 38,87%.

Công tác đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng được các cấp lãnh đạo quan tâm đúng mức. Bằng nhiều nguồn vốn khác nhau như vốn của Nhà nước đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, vốn ngân sách địa phương cùng nguồn vốn hàng tỷ đồng và hàng chục vạn ngày công của nhân dân đã góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn. Hệ thống giao thông nông thôn được coi trọng, đường đi vào trung tâm 226/226 xã, phường đã được bê tông hoá. Trong lĩnh vực thuỷ lợi, tính đến đầu năm 2003, toàn tỉnh đã kiên cố hoá 482,9/1.382 km kênh mương, đưa tổng năng lực tưới lên 36 nghìn ha. Mạng lưới thuỷ lợi đã đáp ứng 70 - 80% diện tích vụ xuân và hơn 65% diện tích vụ mùa.

Đào Bắc Sơn

Ảnh: Nguyên Tâm

 

Hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung

Với mục tiêu từng bước chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá, ngành nông nghiệp đã tham mưu cho tỉnh ban hành các cơ chế, chính sách để hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Trong những năm gần đây, người nông dân đã đầu tư đáng kể vào sản xuất các loại cây công nghiệp, cây đặc sản, cây ăn quả phù hợp với điều kiện đất đai, điều kiện tự nhiên của từng vùng, từng tiểu vùng.

Trong nhóm cây đặc sản của Lạng Sơn, cây hồi có vị trí quan trọng nhất. Tính đến năm 2004, diện tích hồi của toàn tỉnh đạt khoảng 30 nghìn ha, được trồng tập trung ở các huyện Văn Quan, Bình Gia, Cao Lộc, Văn Lãng, Tràng Định cho sản lượng bình quân 5 - 6 tấn hồi khô/năm. Trung bình một ha rừng hồi thuần, với mật độ 400 cây/ha có thể cho thu hoạch 1,5 - 2 tấn quả khô/năm. Với giá trung bình 1.300 USD - 1.500 USD/tấn hồi như hiện nay, một ha rừng hồi có thể cho thu nhập 2.600 - 3.000 USD/năm.

Ngoài ra, Lạng Sơn còn có 52,1 nghìn ha đất thích hợp các loại cây ăn quả dài ngày có giá trị kinh tế cao như: quýt, na, hồng, đào,... Trong đó, nổi tiếng nhất là na dai, được trồng tập trung ở huyện Chi Lăng, Hữu Lũng, do loại cây này phù hợp với chất đất đá vôi. Mỗi vụ na, nhiều gia đình thu được 30 - 70 triệu đồng. Cây quýt được trồng và phát triển thành vùng sản xuất ở huyện Bắc Sơn. Tính đến đầu năm 2004, toàn huyện đã trồng được 604,7 ha, trong đó 10% hộ dân có khoảng 2 - 3 ha quýt trở lên. Mỗi cây quýt cho thu hoạch 120 - 150 kg/vụ, cho doanh thu khoảng 20 - 50 triệu đồng/vụ. Hàng năm, sản lượng quýt ở Bắc Sơn đạt trên 1.197 tấn quả, góp phần xoá đói, giảm nghèo cho các hộ nông dân.

Cây đào cũng được bà con nông dân trồng khá đại trà và trở thành cây trồng chủ lực để xóa đói, giảm nghèo. Đào Lạng Sơn có hương vị đặc biệt, không giống đào ở Sapa - Lào Cai hay Cao Bằng và được trồng chủ yếu ở độ cao hơn 1.000 m. Trong những năm gần đây, nhiều hộ gia đình nông dân ở huyện Hữu Lũng đã bước đầu phát triển mạnh cây vải thiều. Với diện tích gần 4.500 ha, huyện Hữu Lũng và Chi Lăng đang trở thành vùng vải thiều lớn nhất của tỉnh. Ngoài ra, Lạng Sơn đang hình thành vùng nguyên liệu thuốc lá Bắc Sơn 3.500 - 4.000 ha; vùng chè Đình Lập trên 500 ha; vùng thông Lộc Bình, Đình Lập, Chi Lăng, Cao Lộc 64 ngàn ha.

Hồi là loại nông sản quý, chỉ có ở vài nước trên thế giới. Tại Việt Nam, cây hồi ở Lạng Sơn nổi tiếng nhất về chất lượng, quy mô sản xuất cũng lớn hơn cả. Cây hồi ở Lạng Sơn có từ rất lâu đời, được trồng thành những rừng hồi bát ngát, rộng lớn với nhiều loại khác nhau: hồi 8 cánh, trên 13 cánh và nhóm đại hồi.

Hồi là cây công nghiệp lâu năm có giá trị kinh tế cao, thời gian khai thác có thể lên tới hàng trăm năm. Đã từ lâu, cây hồi được bà con các dân tộc trồng để lấy hoa bán hay chưng cất tinh dầu hồi xuất khẩu. Hiện nay, phong trào trồng hồi phát triển mạnh ở Lạng Sơn. Thậm chí, nhiều hộ gia đình còn trồng 3 - 5 ha hồi.

Tuy nhiên, để sản phẩm nông nghiệp trở thành hàng hoá, vấn đề không dừng lại ở công tác đầu tư mà phải tìm được thị trường tiêu thụ sản phẩm. Điều đáng mừng, trong vài năm trở lại đây, nhận thức về thị trường của người làm nông nghiệp ở Lạng Sơn đã bắt đầu đổi mới. Mỗi vùng, mỗi địa phương trong tỉnh đã lựa chọn những giống cây, con vật nuôi gắn với thị trường tiêu thụ. Nhờ đó, nhiều sản phẩm nông nghiệp Lạng Sơn không chỉ cung cấp cho thị trường trong tỉnh mà đã vươn ra nhiều tỉnh trong nước và một số sản phẩm bắt đầu tham gia xuất khẩu.

Phát huy những thành quả đã đạt được, trong giai đoạn 2004 - 2010, ngành nông nghiệp tỉnh Lạng Sơn cần phải nỗ lực hơn nữa để tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ, khai thác hiệu quả tiềm năng lớn về đất đai, về rừng, lao động và vốn liếng ở nông thôn, đưa nông nghiệp, nông thôn sang bước phát triển mới, góp phần tạo thế và lực mới để Lạng Sơn đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng quê hương Lạng Sơn giàu đẹp, văn minh trong thế kỷ XXI.

 

Định hướng phát triển đến năm 2010

Phát triển ngành nông nghiệp toàn diện, nâng cao chất lượng nông sản, hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung quy mô lớn gắn với công nghiệp chế biến, nhằm bảo đảm an ninh lương thực, tạo ra các mặt hàng nông sản có sức cạnh tranh cao. Để đạt được mục tiêu này, ngành nông nghiệp Lạng Sơn đã đề ra một số chỉ tiêu cơ bản đến năm 2010:

- Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân 5%/năm. Lương thực bình quân đầu người đạt 320 kg/năm, thịt hơi các loại đạt 15 - 20 kg, rau và thực phẩm các loại 40 kg, quả các loại đạt 150 - 160 kg/người/năm.

- Phấn đấu đưa diện tích gieo trồng hàng năm lên 86 - 88 nghìn ha; giải quyết việc làm cho 30 - 40 vạn lao động nông thôn; đưa thu nhập của nông dân lên mức 300 - 350 USD/người/năm.

- Bảo vệ rừng hiện có, phát triển nhanh vốn rừng, nâng độ che phủ của rừng lên mức 55% vào năm 2010, phát triển ngành công nghiệp chế biến lâm sản để ngày càng có nhiều người dân làm giàu bằng nghề rừng.

Dự báo một số chỉ tiêu tổng hợp

STT

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

2005

2010

1

Giá trị sản xuất nông nghiệp

Tỷ đồng

2.456

3.982

2

Cơ cấu GDP nông nghiệp. Trong đó:

- Trồng trọt

- Chăn nuôi

 

%

"

 

52,3

18,6

 

48,9

20,7

 

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Năm

Trồng trọt (%)

Chăn nuôi (%)

Dịch vụ (%)

1995

70,4

29,46

0,14

2000

72,41

26,51

1,08

2002

68,66

30,41

0,93

Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lạng Sơn

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ NÔNG NGHIỆP

Địa chỉ: Số 118 đường Ba Sơn, thôn Đồi Chè, xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn

Điện thoại: (025) 3.870.353; Fax: (025) 3.870.353;