Các sở, ngành, huyện, TP

Điều kiện tự nhiên

HUYỆN CHI LĂNG

Chi lăng có vị trí địa lý lợi thế hơn hẳn so với các huyện khác trong tỉnh, nằm trong khoảng giữa thành phố Lạng sơn với tỉnh Bắc giang, Bắc ninh và Hà nội, vừa có quốc lộ 1A đường sắt liên vận quốc tế đi qua... tạo điều kiện cho huyện có nhiều cơ hội thuận lợi để phát triển sản xuất hàng hoá mở rộng giao lưu trao đổi hàng hoá, dịch vụ khoa học công nghệ... với các tỉnh lân cận Hà nội, các tỉnh khác trong cả nước và với Trung quốc.

 

  1. NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN
    1. Điều kiện tự nhiên
    2. Tài nguyên thiên nhiên
    3. Kết cấu hạ tầng:
    4. Tiềm năng du lịch
    5. Nguồn nhân lực
  2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
    1. Đánh giá tổng quát việc thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội
    2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế.
  3. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐẾN NĂM 2010
    1. Các mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
    2. Định hướng phát triển các ngành kinh tế

 

I. NGUỒN NHÂN LỰC

1. Điều kiện tự nhiên.

Chi lăng là một huyện nằm ở phía nam của Tỉnh Lạng sơn, cách thành phố Lạng sơn hơn 30km. Phía bắc giáp với huyện Văn Quan và Cao lộc, phía tây giáp huyện Hữu lũng phía đông giáp với Huyện Lộ Bình, phía nam giáp với tỉnh Bắc Giang.

Là huyện miền núi của tỉnh Lạng sơn địa hình Chi lănng bị chia cắt bởi nhiều đồi núi, hang động khe suối. Phái tây tắc là vùng nuói đá vôi thuộc vùng cung Bắc sơn có nhiều sườn núi dốc đứng với độ cao trên 400m, giữa các núi đá là các cánh đồng tương đối bằng phẳng xen kẽ. Phía nam địa hình thấp đần từ tây bắc xuống đông bắc, gồm nhiều đồi núi thấp, độ cao từ 200-350m

Chi lăng nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa tiểu vùng khí hậu ẩm và mưa nhiều ở phía tây, tiểu vùng lạnh và mưa ít ở phía đông, chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng núi phía bắc. Nhiệt độ trung bình năm 22,7oC lượng mưa trung bình năm 1.379mm.

2. Tài nguyên thiên nhiên.

- Tài nguyên đất. Tổng diện tích đất tự nhiên của Chi lăng là 70.310ha, chiếm 8,46% tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh, chủ yếu là đất feralít có nguồn gốc đá mẹ là trầm tích, sa thạch xen lẫn, và nhóm đất dốc tụ phù sa sông suối với tổng dện tích 55.948ha chia làm 4 nhóm chính: Đất feralít màu vàng nhạt trên núi 410ha, đất ferelít vàng nuí cao có 30.166ha, đất feralít điển hình nhiệt đới (25-300) có 21,725ha, chiếm 38,81% đất lúa nước vùng đồi núi phân bổ chủ yếu ven sông tuơng và xen kẽ giữa các đồi núi có 3.683ha, chiếm 6,58% tổng diện tích đất tự nhiên.

- Nguồn nước: Chi lăng có sông thương chảy qua theo hướng đông bắc- tây nam, công rất hẹo, độ rộng bình quân 6m, độ cao trung bình 176m, độ rốc lưu vực 12,5%, dòng chảy năm là 6,46m3/s lưu lượng vào mùa lũ chiếm 67,6-74,9% còn mùa cạn là 25,1-32,45. Nhờ tác động của đập dâng Cấm sơn, nên mùa cạn sông cẫn có độ sâi 5-6m. Sông thuơng là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt khu.vực nông thôn. ngoài sông Thương, Chi lăng còn có hệ thống các suối, hồ ao, các mạch ngầm chẩy lộ thiên... cung cấo nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất.

Tài nguyên rừng: Các loại thực vật ở rừng Chi lăng tương đối đa dạng, phong phú cả ở rừng núi đá vôi và núi đất. Diện tích rừng tự nhiên có 15.833ha tập trung chủ yếu ở cụm núi đất và cụm núi đá, điển hình và các xã Y Tịch 2.871ha, Vạn linh 2.131,77 ha. Hữu kiên 2.310,85ha Lâm sơn 1.730ha,, rừng núi đá ở Chi lăng có nhiều loại gỗ quý, hiếm như trắc, nghiến hoàng đàn, trò chỉ... Rừng núi đất có chẹo, sau, sám, gỉe ... Diện tích rừng trồng có 5.13,04ha, chủ yếu là rừng nọ tập trung nhiều ở cụm đường sắt 2.579,6ha được trồng theo các dự án 327( nay là chương trình 5 triêu ha rừng) dự án PAM.

- Tài nguyên khoáng sản: Theo số liệu điều tra địa chất cho thấy tài nguyên khoán sản ở Chi lăng không nhiều, chữ lượng nhỏ, chủ yếu là nguồn đá vôi với hàm lượng CaO cao (55%) là nguyên liệu đẩ sản xuất xi măng, đá xây dựng, tập chung nhiều ở các xã Bằng hữu, Bằng mạc , Gia lộc, Chi lăng, Sao mai.. ngoài ra còn có cuộn sỏi, cát, có mỏ sắt chữ lượng khoảng 2 triệu tấn.

3. Kết cấu hạ tầng.

- Cấp điện: Hệ thống lưới điện quốc gia ngày càng mở rộng đến trung tâm xã, thôn bản. Hiện nay, trên địa bàn huyện có 1 trạm 110/10kv, 30 tạm 35/0,4kv, 7 trạm 10/0,4kv, 30km đường day 100kv, đi qua huyện, 101,3km đường dây 35kv từ trạm 110kv đi qua các huyện và 10,4km đường dây 10kv. Đến năm 2002 có 18/21 xã thị trấn có điện lưới quốc gia, trên 80% số hộ được sử dụng điện, sản lượng điện thương phẩm đạt trên 5 triệu kWh.

- Cấp nước: Hiện nay trên địa bàn huyện có 1 hệ thống cấp nước sinh hoạt với 2 bể chứa 10km đường ống nhựa, công suất thiết kế 130m3/ngđ: 21 giếng khoan, 9 công trình nước sạch ở xã song đa số các hộ dân sử dụng nước giếng tự đào, dẫn nước từ khe mạch ... Hiện nay 85% dân số đô thị và 60% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh.

Hệ thống các công trình thuỷ lợi đã được đầu tư nâng cấp, sửa chữa và phát triển. Hiện nay, có 8 trrạm bơm điện, 8 hồ và 74 đập lớn nhỏ với năng lực tưới thiết kế là 1.480 ha,...Tuy nhiên, phần lớn các công trình đã được đầu tư xây dựng lâu, xuống cấp, hệ thống mương chủ yếu là mương đất nên mới huy động được 70% công suất thiết kế.

- Giao thông: hệ thống đường giao thông trên địa bàn huyện khá thuận lợi, có trục đường QL 1A chạy qua địa bàn huyện 32 km, QL 279 là 25 km và tuyến đường sắt liên vận quốc tế Hà Nội - Đồng Đăng đi qua, 27 km đường liên huyện, 79 km đường liên xã và 82 km đường liên thôn. Tuy nhiên, hiện nay một số tuyến đường liên thôn, liên huyện đã bị xuống cấp, hệ thống cống, rãnh thoát nước chưa được xây kiên cố,...Đến nay, 18/21 xã trên địa bàn huyện có đường ô tô đi được 4 mùa.

- Thông tin liên lạc: ytong những năm qua, hệ thống bưu chính - viễn thông trên địa bàn huyện ngày càng phát triển và mở rộng; đến nay, huyện có 2 tổng đài STAREX-ID và STARE-SRX với trên 1.000 máy điện thoại; 20/21 xã, thị trấn có điện thoại, 8/21 xã, thị trấn có bưu điện văn hoá xã; 211/21 xã có báo đọc hàng ngày. Tuy nhiên, hệ thống bưu chính huyện vẫn còn 13 xã chưa có bưu điện văn hoá, chưa phủ sóng được điện thoại di động.

4. Tiềm năng du lịch

Chi Lăng là điểm dừng chân đối với khách du lịch bởi truyền thốg lịch sử lâu đời, hệ thống các di tích lịch sử được xây dựng qua các triều đại vẫn được lưu giữ tại đây như khu chiến tích ải Chi Lăng, hàng Dơi, hàng gió, khu di tích đập Cấm Sơn,...Chi Lăng còn nổi tiếng với các lễ họi truyền thống như: Hội Lồng Tồng (xuống đồng) ở Nhân Vĩ, Háng Ví (Chiến Thắng), hội chợ ĐỒng Mỏ, Bắc Thuỷ (Nhân Lý)...

5. Nguồn nhân lực

Năm 2000, dân số trung bình của Chi Lănglà 77.264 người, chiếm 10,65% dân số cả tỉnh, mật độ dân số trung bình là 109,9 người/km2, cao hơn mức trung bình của tỉnh, với nhiều dân tộc khác nhau sinh sống. Gần 84% dân số sống ở nông thôn và sản xuất nông nghiệp, dân số thành thịchỉ có trên 16%.

Tổng số lao động trong độ tuổi của Chi Lăng năm 2000 là 35.346 người, chiếm 45,75% dân số đa số là lao động trẻ, khoẻ, đây là nguồn nhân lực lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Chi Lăng. Song số lao động qua đào tạo chiếm tỷ trọng rất nhỏ (5,11%) trong tổng số lao động là cản trở lớn với Chi Lăng trong việc tiếp nhận các tiến bộ khoa học kỹ thuật, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Do đó, vấn đề đặt ra là cần thiết phải tăng cường đào tạo và đào tạo lại lực lượng lao động

II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI

1. Đánh giá tổng quát việc thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội

Thời kỳ 1996-2002 nền kinh tế của Chi Lăng phát triển với nhịp độ tăng trưởng khá và từng bước ổn định. Tổng sản phẩm GDP bình quân hàng năm tăng 8,29%. Năm 2002 tổng sản phẩm GDP trên địa bàn huyện đạt trên 245 tỷ đồng (giá cố định năm 1994) tăng gấp 2,9 lần so với năm 1995: GDP bình quân đầu người năm 2002 là 3.485 nghìn đồng : tăng gấp 2,25 lần so với năm 1995.

Cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng tích cực, trong GDP tỷ trọng ngành công nghiệp- xây dựng năm 1995 chiếm 9,9%, năm 2002 chiếm 9,05%; ngành nông nghiệp - lâm nghiệp giảm giảm từ 70,4% năm 1995 xuống còn 65,5%; ngành dịch vụ tăng từ 19,7% năm 1995 lên 25,45% năm 2002.

Các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, văn hoá, thông tin, TDTT, văn hoá xã hội đều có sự chuyển biến tích cực. Quy mô học sinh các cấp ngày càng tăng, chất lượng giáo dục được nâng nên rõ rệt tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đến trường đạt 97,8%. Đến hết năm 2002 có trên 70% số hộ được nghe đài tiếng nói Việt Nam, 40% số hộ được xem truyền hình , tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 1,1%, tỷ lệ hộ đói nghèo giảm từ 19,6% năm 1995 xuống dưới 16% năm 2002 (theo chỉ tiêu mới )...

2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

2.1. Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

Sản xuất công nghiệp trên địa bàn huyện Chi Lăng nhìn chung có bước phát triển khá. Bình quân hàng năm giá trị CN-TTCN tăng 13,41%, trong đó có công nghiệp quốc doanh TW và tỉnh quản lý tăng 14,13% và công nghiệp do huyện quản lý tăng 11,75%.

2.2 Nông - lâm nghiệp

Sản xuất nông -lâm nghiệp mặc dù phụ thuộc khá nhiều vào thời tiết, khí hậu nhưng do chuyển dịch đẩy mạnh cơ cấu cây trồng, cơ cấu mùa vụ, ứng dụng tién bộ khoa học kỹ thuật, đưa giống mới vào sản xuất nên có bước phát triển khá. Giá trị sản xuất nông - lâm nghiệp bình quân hàng năm tăng 5,65%. Trong nông - lâm nghiệp giá trị ngành nông nghiệp chiếm 69,47%, ngành lâm nghiệp chiếm 29,64% và nghành thuỷ sản chiếm tỷ trọng rất nhỏ 0,89%. Sản lượng quy thóc tăng từ 21.742 tấn (năm 1995) lên 25.410 tấn (năm 2000), lương thực bình quân đầu người năm 2000 là 329 kg, cơ bản đã giải quyết được trên địa bàn .

Với tiềm năng, thế mạnh về khí hậu, đất đai, tài nguyên khoáng sản... Chi Lăng có thể đẩy mạnh phát triển nền sản xuất hàng hoá nông-lâm nghiệp, phát triển công nghiệp sản xuất VLSX, công nghiệp khai khoáng, chế biến nông lâm sản ...

2.3 Thương mại - dịch vụ

Các hoạt động thương mại-dịch vụ ngày càng phát triển và nâng cao chất lượng phục vụ. Giá trị các ngành dịch vụ bình quân hàng năm tăng 13,53%, trong đó thương nghiệp sửa chữa tăng 16,69%, kinh doanh khách sạn nhà hàng tăng 11,88%, dịch vụ vận tải , kho bãi tăng 10,93%, bưu điện tăng 35,46%...

III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐẾN NĂM 2010

1. Các mục tiêu, chiến lược phát triển - kinh tế - xã hội

Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao hơn trong thời kỳ 1996-2000. Phấn đấu nhịp độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm thời kỳ 2001-2010 là 9,5-10%, trong đó thời kỳ 2001-2005 là 9-9,5% và thời kỳ 2006-2010 là 9,7-10%. GDP bình quân đầu người năm 2010 là 6,0-6,5 triệu đồng tăng gấp 2,3-2,5 lần so với năm 2000 (giá năm 2000) và tương đương với mức bình quân chung của tỉnh. Bình quân hàng năm thời kỳ 2001-2005, giá trị ngành nông lâm nghiệp tăng từ 6,0-6,5% công nghiệp XDCB tăng 13%-13,5%, các ngành dịch vụ tăng 13.5%-14%; thời kỳ 2006-2010, giá trị ngành nông-lâm nghiệp tăng 6,5-7,0%, ngành công nghiệp xây dựng cơ bản tăng 9,5-10% và các ngành dịch vụ tăng 13,5%-14%. Tạo sự chuyển biến rõ rệt trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhất là cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn. Phấn đấu đến năm 2010, cơ cấu kinh tế của huyện Chi Lăng như sau: nông -lâm nghiệp 48,1%, công nghiệp xây dựng cơ bản 14,6%, dịch vụ 37,3%.

Tạo bước chuyển biến trong sự nghiệp phát triển giáo dục, y tế văn hoá - xã hội, nâng cao trình độ dân trí và chất lượng giáo dục - đào tạo ngành nghề, quan tâm đào tạo nguồn nhân lực cho các vùng sâu, vùng xa, đặc biệt khó khăn: tăng cường công tác bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân, phòng chống các dịch bệnh nguy hiểm và dịch bệnh xã hội, công tác DS-KHHGĐ, giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng sức khoẻ và tuổi thọ của người dân... Giảm tỷ lệ sinh hàng năm 0,04% - 0,06%. Phấn đấu đạt tỷ lệ tăng dân số bình quân hàng năm thời kỳ 2001-2005 là 1,02%, thời kỳ 2006-2010 là 0,98% quy mô dân số năm 2010 khoảng 85.346 người.

Phát triển các hoạt động văn hoá, thông tin, TDTT, phấn đấu đến năm 2010, 85% số xã có thư viện, tủ sách ; 100% hộ được nghe đài tiếng nói Việt Nam, 85% số hộ được xem truyền hình. Đẩy mạnh chương trình giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, phấn đấu đến năm 2005 cơ bản xoá xong hộ đói và đến năm 2010 giảm tỷ lệ họ nghèo xuống còn dưới 3% theo tiêu chí hiện nay của Nhà nước.

2. Định hướng phát triển các ngành kinh tế

2.1. Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp

Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế về thị trường, nguyên liệu, nhân lực như sản xuất VLXD, công nghiệp khai thác quặng , chế biến nông-lâm sản. Vừa mở rộng quy mô, vừa chú ý nâng cao chất lượng sản phẩm , đa dạng hoá sản phẩm. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp thời kỳ 2001-2005 đạt 13%. Thời kỳ 2006-2010 đạt 11,74% và cả thời kỳ 2001-2010 đạt 12,38%. Đến năm 2010 công nghiệpTW và tỉnh quản lý chiếm 62,7%, công nghiệp do huyện quản lý chiếm 37,3%.

2.2. Nông - lâm nghiệp

Nông - lâm nghiệp là nghành ki9nh tế chủ đạo của huyện Chi Lăng, từ đây có thể khai thác và phát huy tối đa nội lực của huyện. Phấn đấu nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm nghành nông lâm nghiệp giai đoạn 2001-2010 từ 6-7%, trong đó riêng ngành nông nghiệp là 7-8%. Đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm, phấn đấu đạt sản lượng lương thực từ 34-35 nghìn tấn vào năm 2010, lương thực bình quân đầu người đạt 410-420 kg.

2.3. Thương mại - dịch vụ

Tiếp tục củng cố và phát triển hệ thống cửa hàng thương nghiệp quốc doanh ở các trung tâm cụm xã và trung tâm xã, làm tốt nhiệm vụ cung ứng những mặt hàng thiết yếu phục vụ đồng bào dân tộc làm cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, tiêu thụ nông - lâm sản, hàng hoá cho nông dân. Phấn đấu bình quân hàng năm giá trị các ngành dịch vụ tăng 13-14%, trong đố nggành công nghiệp sửa chữa tăng 17-18%, vận tải kho bãi tăng 15-16%, bưu chính viễn thông tăng 17-18%.

Dự báo thời tiết
Lạng Sơn24
Hà nội 25
Đà Nẵng26
Hồ Chí Minh25
TRANG TIN ĐIỆN TỬ ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG

Địa chỉ: Khu Thống Nhất I - Thị trấn Đồng Mỏ - Huyện Chi Lăng - Tỉnh Lạng Sơn

Điện thoại: (025) 3.820.237; Fax: (025) 3.820.312 ; Email: chilang@langson.gov.vn