Các sở, ngành, huyện, TP

Huyện Cao Lộc bứt phá theo hướng phát triển thế mạnh biên giới và lợi thế kinh tế cửa khẩu

Thứ Sáu, 08/10/2007 - 05:41

Huyện Cao Lộc bứt phá theo hướng phát triển thế mạnh biên giới và lợi thế kinh tế cửa khẩu

Cao Lộc là huyện miền núi biên giới có xuất phát điểm kinh tế tương đối thấp, chủ yếu là kinh tế nông - lâm nghiệp. Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua, huyện đã tập trung mọi tiềm lực để khai thác lợi thế biên giới và kinh tế cửa khẩu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng. Nhờ đó, các hoạt động thương mại - dịch vụ phát triển ngày càng sôi động, đem lại cho huyện nguồn thu cơ bản, đưa Cao Lộc từ huyện nghèo trở thành một trong những huyện khá của tỉnh Lạng Sơn.

- Diện tích: 644,61 km2

- Dân số: 7,5 vạn người

- Đơn vị hành chính: 2 thị trấn (Đồng Đăng và Cao Lộc) và 21 xã.

- Tốc độ tăng trưởng GDP: 10,53%/năm (1999 - 2004)

- GDP bình quân đầu người: 4,27 triệu đồng/người (năm 2003)

- Vị trí: phía Bắc giáp tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) với đường biên giới dài trên 83km; phía Đông giáp huyện Lộc Bình; phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Văn Quan và huyện Văn Lãng; phía Nam giáp huyện Chi Lăng.

 

Những bước tiến trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp

    Là huyện miền núi biên giới, Cao Lộc không nằm ngoài khó khăn chung của tỉnh Lạng Sơn. Tuy nhiên, nhờ cơ chế kinh tế mở của Đảng và Nhà nước, phát huy những lợi thế và tiềm năng sẵn có, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Cao Lộc đã vượt qua mọi khó khăn, cơ bản thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội đề ra. Cơ cấu kinh tế của huyện chuyển dịch theo hướng: giảm tỷ trọng nông - lâm nghiệp từ 52,60% (năm 1999) xuống 42,97% (năm 2004), tăng tỷ trọng thương mại - dịch vụ từ 33,40% lên 36,95% và công nghiệp - xây dựng từ 14% lên 20,08%. Trong 5 năm 1999 - 2003, GDP của huyện tăng bình quân 10,53%/năm; GDP bình quân đầu người năm 2003 đạt 4,27 triệu đồng, tăng 47% so với năm 1999.

Mặc dù diện tích đất nông nghiệp của huyện chiếm tỷ lệ nhỏ (khoảng 10% tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện) nhưng nhờ khai thác hợp lý, thực hiện thâm canh tăng vụ, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nên nhịp độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp vẫn duy trì ở mức khá, đạt 5,9%/năm (1999 - 2003) (mục tiêu Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVII nhiệm kỳ 2000 - 2005 đề ra là 5,4%). Tổng sản lượng lương thực tăng bình quân 6,28%/năm. Bên cạnh các cánh đồng nhỏ, ruộng bậc thang, Cao Lộc còn có cánh đồng Gia Cát - Tân Liên rộng chừng 400 ha, chủ yếu trồng lúa và các loại cây như ngô, sắn, khoai lang, khoai tây, dưa hấu, đỗ tương, mía,... Trong những năm qua, phong trào trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, trồng rừng phòng hộ, trồng rừng nguyên liệu giấy, làm kinh tế vườn rừng ở Cao Lộc phát triển khá mạnh mẽ. Nếu như năm 1999 tổng diện tích rừng trên toàn huyện là 15.148ha, độ che phủ đạt 23,5%, thì đến năm 2003 diện tích rừng đạt 22.690ha, độ che phủ là 35,2%.

Được đẩy mạnh phát triển, lĩnh vực chăn nuôi cũng đạt mức tăng khá. Đáng chú ý là ở các xã vùng cao đặc biệt khó khăn, xã vùng III biên giới Công Sơn, Mẫu Sơn, Cao Lâu, Xuất Lễ bước đầu có sự kết hợp giữa chế biến thực phẩm với chăn nuôi. Sử dụng nguồn nước từ dãy núi Công Sơn, Mẫu Sơn để nấu rượu, nhân dân địa phương đã tạo ra loại rượu Mẫu Sơn ngon nổi tiếng. Bỗng rượu - sản phẩm phụ từ nghề nấu rượu - đã được tận dụng làm thức ăn cho lợn. Nhờ thế, phong trào chăn nuôi lợn thịt ở các xã này phát triển rất mạnh về cả số lượng đàn lợn và số hộ nuôi.

 

Phát triển thương mại - dịch vụ dựa vào thế mạnh cửa khẩu

     Với lợi thế có quốc lộ 1A, 1B, 4B, tuyến đường sắt Hà Nội - Đồng Đăng - Trung Quốc, đường sắt Đồng Mỏ - Na Dương chạy qua địa phận, có cửa khẩu Hữu Nghị và các cặp chợ biên giới, trong những năm qua, ngành thương mại - dịch vụ của Cao Lộc có mức tăng trưởng đáng kể. Tổng mức lưu chuyển hàng hoá và doanh thu dịch vụ, du lịch tăng từ 80 tỷ đồng (năm 1999) lên 126 tỷ đồng (năm 2003), bình quân tăng 12,03%/năm. Các hoạt động thương mại - dịch vụ đã cung ứng vật tư, hàng tiêu dùng thiết yếu trên địa bàn huyện, nhất là vùng sâu, vùng xa, cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân.

     Trung tâm thương mại - dịch vụ lớn nhất của huyện là thị trấn Đồng Đăng với tâm điểm là chợ Đồng Đăng. Sức hút của chợ Đồng Đăng chính là các sạp hàng với đủ chủng loại hàng hoá bày bán trong tất cả các ngày. Đặc biệt, ngày chợ phiên (ngày 1 và ngày 6), dân từ các thôn bản, từ miền xuôi bày bán các sản phẩm nông nghiệp, hàng mây tre, hoa hồi,... khiến chợ càng sôi động, nhộn nhịp hơn. Ngoài ra, các cặp chợ biên giới Bảo Lâm, Ba Sơn đang từng bước được cải tạo, đầu tư cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân trao đổi hàng hoá nông sản với nước láng giềng Trung Quốc. Để có thể khai thác triệt để tiềm năng từ các cặp chợ biên giới, các cửa khẩu, huyện Cao Lộc đang từng bước xây dựng luận cứ để quy hoạch hình thành các vùng kinh tế như khu vực kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Bảo Lâm, khu vực phát triển công nghiệp - dịch vụ dọc tuyến quốc lộ 1A, 1B. Đồng thời, đề xuất với các cấp có thẩm quyền cho phép huyện thực hiện một số cơ chế ưu đãi ở các khu kinh tế cửa khẩu để tạo nguồn thu ngân sách, thúc đẩy hoạt động thương mại, du lịch, hợp tác đầu tư phát triển.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh thăm và làm việc với huyện Cao Lộc (tháng 9-2003)

Ảnh: Tư liệu

   Lĩnh vực công nghiệp - xây dựng của Cao Lộc cũng đạt được những bước tiến khả quan với tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế ngày càng tăng, từ 14% (năm 1999) lên 20,08% (năm 2003), tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 26,89%/năm. Đến hết năm 2003, toàn huyện có 25 hợp tác xã, 6 công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân, 1 công ty cổ phần, 1 doanh nghiệp nhà nước, chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực: sản xuất vật liệu xây dựng, dịch vụ vận tải, bốc xếp, sửa chữa cơ khí, xây lắp, quản lý điện nông thôn,... Các sản phẩm chính trong công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng như gạch ngói, đá, cát xây dựng các loại đã có sức tiêu thụ tốt trên thị trường, cơ bản đáp ứng nhu cầu xây dựng trên toàn tỉnh. Các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn huyện đã tập trung đổi mới công nghệ và đầu tư trang thiết bị hiện đại để đáp ứng những yêu cầu mới của thị trường. Điển hình là Công ty cổ phần gạch ngói Hợp Thành đã đầu tư dây chuyền sản xuất gạch tuynen công suất 10 triệu viên/năm, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Hồng Phong đầu tư thêm máy móc khai thác đá nhằm tăng sản lượng gấp 2 - 4 lần so với năm 2003.

     Tiếp tục đẩy mạnh phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, nhất là các ngành nghề truyền thống là nhiệm vụ trọng tâm của Cao Lộc trong thời gian tới, phấn đấu đến năm 2005 toàn huyện có 32 loại hình hợp tác và hợp tác xã. Thực hiện mục tiêu này, Cao Lộc đang tiến hành các thủ tục thu hồi giao đất, giải phóng mặt bằng để các dự án lớn trong công nghiệp như khu công nghiệp địa phương số 2, Nhà máy xi măng Hồng Phong, Xưởng sản xuất gạch tuynen Hợp Thành,... nhanh chóng được xây dựng và đi vào hoạt động. Ngoài ra, huyện còn tranh thủ các nguồn vốn đầu tư bằng hình thức lập dự án, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tiếp cận, gọi vốn đầu tư vào địa bàn.

 

Quan tâm toàn diện đến lĩnh vực văn hóa - xã hội

    Cùng với phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng ở Cao Lộc ngày càng được củng cố và phát triển mạnh, đặc biệt là hệ thống đường giao thông, các công trình thủy lợi, trường, trạm,... với tổng vốn đầu tư tăng từ 72 tỷ đồng (năm 1999) lên 168 tỷ đồng (năm 2003). Đến Cao Lộc hôm nay, chúng ta có thể cảm nhận sự đổi thay lớn lao, nhất là diện mạo các xã vùng cao, vùng giáp biên với những con đường liên thôn được bê tông hóa, các công trình trạm, kênh mương cấp nước cho sinh hoạt và tưới tiêu được kiên cố, hệ thống điện không ngừng được mở mang đến tận các xã vùng III. Đến năm 2003, Cao Lộc đã có 21/23 xã, thị trấn được dùng điện lưới, (phấn đấu đến năm 2005, 100% xã có điện, 80% hộ dân được sử dụng điện), 100% xã có đường ôtô đi đến trung tâm, 23/23 xã, thị trấn ôtô đi được 4 mùa. Bên cạnh đó, hệ thống bưu điện, thông tin liên lạc ngày càng được mở rộng, 100% xã, thị trấn có điện thoại, phục vụ tốt hơn nhu cầu của đời sống xã hội.

    Với phương châm giáo dục là quốc sách hàng đầu, huyện đã tạo mọi điều kiện cho công tác đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường học, trang thiết bị dạy và học, từng bước quy hoạch mạng lưới trường lớp, cơ cấu ngành học, cấp học hợp lý, bảo đảm sự phân bố trường lớp ở trung tâm dân cư. Đối với các xã vùng III, huyện có cơ chế hỗ trợ học sinh trung học phổ thông để con em các dân tộc có điều kiện đến trường. Đây là cơ sở tạo nguồn cán bộ cho các xã vùng III trong tương lai. Đến hết năm 2003, huyện đã phổ cập trung học cơ sở cho 12/23 xã, thị trấn.

Nông dân xã Hồng Phong chuyển đổi cơ cấu cây trồng - đưa cây ngô xuống ruộng

                                                                                            Ảnh: Tư liệu

   Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng được tăng cường. Ngoài trung tâm y tế huyện, các phòng khám đa khoa khu vực và trạm y tế, mạng lưới y tế cộng đồng ở các thôn bản được đầu tư nâng cấp đã đóng góp tích cực cho công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. 100% xã có trạm y tế và cán bộ trực y tế. Các chỉ tiêu khám chữa bệnh, tiêm chủng mở rộng và các chương trình mục tiêu quốc gia đều đạt được kết quả tích cực.

     Công tác xóa đói giảm nghèo được các cấp chính quyền Cao Lộc quan tâm và đẩy mạnh. Số hộ nghèo giảm bình quân trên 2%/năm, còn 13,37% vào năm 2003. Số hộ có thu nhập khá ngày càng tăng. Bên cạnh đó, nhân dân các dân tộc Cao Lộc còn thực hiện tốt công tác bảo tồn, phát huy nhiều loại hình văn hóa truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc như: các làn điệu sli, then, các lễ hội truyền thống,...

    Quán triệt quan điểm của Đảng về công tác an ninh - quốc phòng trong tình hình mới, trong những năm qua, Đảng bộ huyện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và biên phòng toàn dân trong các cơ quan, đơn vị, các tầng lớp nhân dân. Vì thế, ý thức quốc phòng toàn dân trên địa bàn huyện được nâng lên, công tác bảo vệ đường biên, mốc giới, đảm bảo an ninh khu vực biên giới được thực hiện tốt, góp phần giữ vững, bảo vệ chủ quyền quốc gia.

     Nhìn một cách tổng thể, trong những năm đổi mới, Cao Lộc đã đạt được một số thành tựu về kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng. Tuy nhiên, trên bước đường phát triển, huyện Cao Lộc vẫn còn nhiều khó khăn trước mắt như chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, nhất là trong sản xuất nông - lâm nghiệp, tỷ trọng ngành nghề dịch vụ còn thấp. Cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông nông thôn, kiên cố hóa kênh mương, xây dựng sân thể thao, nhà văn hóa xã thôn... vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Theo ý kiến của các đồng chí lãnh đạo huyện Cao Lộc, muốn khắc phục được những khó khăn trên, điều trước tiên là cần phải thay đổi tư duy làm kinh tế của nhân dân trong huyện, mạnh dạn ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, vươn lên làm giàu. Để tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình chuyển biến tư duy này, các cấp lãnh đạo huyện phải kịp thời đề ra các cơ chế, chính sách khuyến khích, ưu đãi phù hợp với đặc thù của huyện. Đây chính là con đường để Cao Lộc vươn lên theo kịp đà phát triển của tỉnh và cả nước.

Nguồn: Huyện ủy Cao Lộc

 

Cửa khẩu Hữu Nghị

     Cửa khẩu Hữu Nghị nằm ở khoảng mốc 18 và 19 trên con đường huyết mạch 1A, cách thị trấn Đồng Đăng 4km về phía Bắc; tiếp nối với đường 1A về phía bên kia biên giới là quốc lộ 322 của Trung Quốc. Cửa khẩu Hữu Nghị do đồn biên phòng cửa khẩu Hữu Nghị thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng Lạng Sơn quản lý.

     Trước kia, cửa ải này được gọi bằng các tên khác nhau: ải Nam Quan, ải Pha Lũy, trấn Nam Quan, Mục Nam Quan, Hữu Nghị Quan, nay gọi là cửa khẩu Hữu Nghị. Năm 1991, theo Hiệp định tạm thời về biên giới do Chính phủ Việt Nam và Trung Quốc ký kết, cửa khẩu này được bên Việt Nam gọi là cửa khẩu Hữu Nghị, bên Trung Quốc gọi là Hữu Nghị Quan.

 

Mục tiêu kinh tế - xã hội đến năm 2005

(Trích Nghị quyết Đại hội lần thứ XVII Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2000 - 2005)

+ Nhịp độ tăng trưởng kinh tế: 10 - 10,5%/năm.

+ Lương thực bình quân đầu người đạt trên 320kg.

+ Nguồn thu từ nội địa bình quân tăng 6%/năm.

+ Trên 75% hộ dân được dùng nước sạch.

+ Cơ bản các trường học được kiên cố hóa (trường chính).

+ Hạ tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng (dưới 5 tuổi) xuống còn 20% (theo tiêu chí cũ).

+ Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục kiến thức quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân nhằm nâng cao nhận thức về nền quốc phòng toàn dân. Xây dựng lực lượng vũ trang trong sạch, vững mạnh, gắn nhiệm vụ quốc phòng - an ninh với phát triển kinh tế, nhất là đối với các địa bàn trọng điểm, khu vực biên giới.

 

Một số chỉ tiêu về nông - lâm nghiệp

Đơn vị: ha

Chỉ tiêu
1999
2003
Tăng trưởng (2003/1999) (%)

Diện tích lúa

4.583

5.342

16,5

Diện tích ngô

595

955

60,5

Diện tích cây ăn quả

1.265

2.192

73,2

Diện tích rừng

15.148

22.690

49,7

Tổng sản lượng lương thực

17.847

22.780

27,6

Nguồn: Uỷ ban nhân dân huyện Cao Lộc

 

 

Dự báo thời tiết
Lạng Sơn27
Hà nội 27
Đà Nẵng31
Hồ Chí Minh33
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LẠNG SƠN - TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HUYỆN CAO LỘC

Địa chỉ: Khối 6, thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn

Điện thoại: (025) 3.861.306; Fax: (025) 3.861.240; Email:

Thiết kế và Xây dựng : Công ty cổ phần Công Nghệ Bình Minh www.binhminh.com.vn